

Tôi xin phép Đức Phật và tôi xin cung thỉnh mang lại những lời truyền dạy trong giáo lý Phật giáo về lịch sử của Đức Phật
I would like to bring the story of the Buddha was born and all gods, goddesses from the five worlds come to respect on his birthday at Lumbini park, India .
On my wish on the Buddha birthday please give the kindness to all human beings in the world and other lives to be free from suffering now and forever. Sathu.


หลวงตาท่านได้สั่งให้ คุณโยมเอกพร ศรีบัณฑิต ช่วยเป็นภาระให้ในการสร้างพระองค์นี้เป็นเวลา ๑ ปีจึงแล้วเสร็จ มูลค่า ๕๘,๐๐๐ บาท ขออำนาจผลบุญนี้จงไปปกปักรักษา ครอบครัวของคุณโยมเอกพร ศรีบัณฑิต พร้อมด้วยญาติมิตรและพุทธมามกะ จงเจริญสุขพร้อมไปด้วยโภคทรัพย์ และขอให้ในชีวิตนี้จงมีแต่ความรุ่งเรืองอยู่เย็นเป็นสุขเทอญ
Đặt một năm mới xong giá 58 ,000 Baht
Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong ordered Phra Shinnarat from Thailand . It took about one year to finish and it costs about 58,000 Baht. Now the Buddha statue is in Australia on Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong 's respection.

Tượng Sakayamuni Phrachanhdhavimutisuok
Đúc bằng đồng vàng, hiện là pho tượng bằng đồng lớn nhất ở Australia
Cao 4,5 m, Rộng 2,5 m, Dài 3,5 m , Nặng 4,5 tấn, tỏng cọng 82 ngàn tiền, ÚC
Ngày khởi công: 21/03/1998
Ngày chuyển đi từ Thái Lan: 21/03/1999
Ngày chuyển đến Australia : 04/04/1999
Thiết kế và tài trợ: Lươngta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong
“Tôi cầu chúc mọi chúng sinh trên thế gian này hãy cùng sống mạnh khỏe, sống lâu trong niềm hạnh phúc và yêu thương”.
Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong 20 /8/ 1999.
Tác giả của cuốn sách, Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong, là một tăng sĩ Phật giáo người Lào, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1921. Năm lên 10 tuổi, Ngài gia nhập Tăng đoàn và được thọ Cụ túc giới vào ngày sinh nhật lần thứ 21. Khi còn trẻ, Ngài rất thích du hành khắp đất nước Lào để hành nội thiền và để tế độ cho những chúng sinh muốn được nghe lời chỉ dạy của Ngài. Khi ấy, tại Lào, Hội Phật giáo đã ban tặng Ngài danh hiệu Đức đạo sư Chanhphy Manivong - { Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong – Hoà Thượng }
Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong chuyển đến cư trú tại Australia vào ngày 21 tháng 6 năm 1981, hai năm sau đó Ngài được phép nhập quốc tịch Australia. Bây giờ ngài đã 78 tuổi. Trong suốt quãng thời gian sống ở Australia , Ngài đã có rất nhiều đóng góp cho giới Lý Phật giáo tại Australia và các nước khác trên thế giới. Ngài cũng là tác giả của rất nhiều cuốn sách viết về Phật pháp (bằng tiếng Lào và tiếng Anh), đã được truyền bá đi khắp thế giới và được coi như là Món quà Giáo pháp dành tặng cho tất cả chư vị Phật tử. Sau đây là một số cuốn sách về Giáo pháp và những đóng góp từ thiện của Ngài đối với Phật giáo:
1.Silangloke Anuttarang
2.Vimutti
3.Con đường bạn đang tìm kiếm (Phần I & II)
4.Trạng thái trống rỗng bạn đang tìm kiếm
5.Thấu tỏ thiền định Vipassana – Trung gian Thiền định của 6 giai đoạn nhận thức
6.Phật pháp cho bạn
7.Lịch sử Đức Phật Cồ Đàm Tất Đạt Đa
Ngoài ra, Ngài Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong -Thầy dâng tặng những hiện vật rất có giá trị cho các chùa và Học viện Phật giáo như:
Còn thêm một Đức Phật giảng sinh nặng 500 kg và bảy toà Hoa sen, mỗi một toà nặng 50 kg và tiền $500 AUD và Ngọc xá lợi , tổng cộng sách viết về giáo lý Phật giáo 5000 cuốn cúng tặng cho Trung tâm luận đàm Phật giáo (Upwey), số 33 Brooking St, Upway VIC. 3158, Australia.
Trong những năm qua, Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong đã đi vòng quanh thế giới với mục đích truyền bá đạo pháp cho những vị Phật tử muốn được nghe lời chỉ dạy của Ngài. Ngài đã có nhiều dịp sang Mỹ, Châu Âu, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Lào. Bất kể việc gì Ngài cũng làm với tất cả nhiệt huyết để duy trì và phát triển nền Phật giáo vì lợi ích của toàn thể chư vị Phật tử.
Lời cuối cùng tôi muốn nói là tôi luôn nhớ đến lời khuyên mà Ngài đã nói với các vị Phật tử rằng “Không tin vào ai, chỉ tin vào lẽ phải; không nghe ai nói, chỉ nghe theo lẽ phải”. Tôi có thể đứng ra xác nhận rằng những đóng góp từ thiện của Ngài Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong là hoàn toàn có thật.
Saksith Vongtongtip
9/9/1999
Lịch sử ĐỨC PHẬT TỔ CỒ ĐÀM TẤT ĐẠT ĐA
Tác giả
Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong -Hoà Thượng
ISBN 0 64634174 x

LỊCH SỬ CỦA ĐỨC PHẬT TỔ CỒ ĐÀM TẤT ĐẠT ĐA
CUỐN SÁCH LỊCH SỬ CỦA ĐỨC PHẬT TỔ THÍCH CA MÂU NI
Đã HOÀN THÀNH XONG vậy TÔI XIN KÍNH BIẾU
Xin kính thưa Tăng ni, Sĩ và Phật tử, các cháu Bạn thân thuộc, Tôi hân hạnh xin mang Lịch Sử của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu ni, Mà tôi đã cống hiến thì giờ và thời gian viết và gom góp, những lời truyền dạy của Đức Phật Tôi khởi nghĩa bắt đầu viết từ ngày 21st tháng March 1942 là ngày sinh nhật của tôi 21 tuổi, thời gian khá lâu, mãi cho đến ngày 21st tháng march 1998 là ngày sinh nhật của tôi 77 tuổi đã hoàn thành kết thúc Xong cuốn sách tên- Lịch Sử Đức Phật Tổ, “Siddhatha Khô Ta mã Sắc Khaya Mâu Ni Buddha”. Và Hoạ hình gồm có tất cả là, 223 tấm hình. Vậy tôi xin phép Đức Phật xin cung thỉnh Những lời truyền dạy của Ngài, Xin kính Biếu tăng ni và nhà Chùa và nhà thư viện cùng thế giới, và toàn thể Phật Tử, Ai có lòng tin cầu mong cho mình có được một cuộc sống thịnh vượng hạnh phúc và yên vui, vậy tôi cầu xin cho toàn thể loài người sống trên trái đất của vũ trụ hoàn cầu này, cùng sống chung một bầu không khí và không gian, và tình thương yêu đùm bọc lân cận, để được cùng hưởng những tốt đẹp theo lời truyền dạy của Đức Phật, tôi xin trao tặng cuốn sách- Lịch Sử Đức Phật Tổ, và cầu mong, xin cho mọi người gìn giữ bản mệnh, để thịnh vượng trường thọ, và gìn giữ lời truyền dạy của Đức Phật trong cuốn sách này, bằng một sự kính quý: Vô giá-có nghĩa tôn thờ kính thưa bẩm dạ Đức Phật, và làm theo lời truyền dạy của Ngài, để hưởng hạnh phúc đời-đời kiếp-kiếp.
Nam Mô bổn Sư thích Ca Mâu Ni Phật.
Tôi xin kính thưa nhận rõ, đó là sự thật mà Thầy đã cống hiến cho giáo lý Phật giáo và cá nhân. Tôi Êkachai Sribănđitt, xin thay mặt Thầy Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong Xin kính biếu toàn thể các Ngài, Ai đã có lòng tin, mong muốn sự tốt đẹp và hạnh phúc theo lời truyền dạy của Đức Phật cho bản thân mình, và cho người khác, tôi cầu mong và xin cho mọi người, được hưởng sự tốt đẹp đó
Tôi cầu mong xin cho Thầy khoẻ mạnh để Thầy hoàn thành và đạt được những sự mong muốn.
Xin cám ơn
|
Êkachai Sribănđitt
Ngày 3 tháng Ba 1972
| Lời giới thiệu | 15 |
| Mười kiếp sống của một Bồ Tát | 18 |
| Tiểu sử tác giả | 20 |
| Cống hiến công đức | 22 |
| Lời của dịch giả | 23 |
| Thông điệp của giáo pháp | 24 |
| Ấn Độ | 27 |
| Chư thiên thỉnh cầu một vị bồ tát đầu thai xuống trần gian để trở thành đức Phật | 28 |
| Đức Bồ Tát đầu thai vào dòng họ Thích ca ở thành Ka Tỳ La Vệ | 29 |
| Thành Ka Tỳ La | 31 |
| Giấc chiêm bao | 32 |
| Hoàng hậu Siri Maha Mada xin phép đức vua | 33 |
| Biên giới Lumbini | 34 |
| Thái tử ra đời | 35 |
| Thái tử trở về cung điện | 36 |
| Cuộc thăm viếng của hiền nhân Karadhevin | 37 |
| Hiền nhân Karadhevin đảnh lễ trước thái tử | 38 |
| Hiền nhân Karadhevin và đức vua cùng đảnh lễ trước thái tử | 39 |
| Buổi hội họp của các nhà thông thái và bậc hiền nhân trong cung | 40 |
| Lời tiên đoán của các vị tiên tri về tương lai của thái tử | 41 |
| Mong ước của đức vua Tịnh Phạn | 42 |
| Hoàng hậu Siri Maha Maya qua đời vào ngày thứ bảy | 43 |
| Di mẫu Nang Maha Passabody | 44 |
| Việc dạy dỗ thái tử Tất Đạt Đa | 45 |
| Thái tử Tất Đạt Đa học bắn cung | 46 |
| Việc học tập từ các thầy giáo và các bậc đạo sư | 47 |
| Thái tử Tất Đạt Đa với các môn võ nghệ | 48 |
| Thái tử Tất Đạt Đa và tinh thần thượng võ, lòng nhân từ với đối thủ | 49 |
| Thái tử và lòng nhân từ đối với loài vật | 50 |
| Thái tử lên tám tuổi đã biết nhận thức giá trị cuộc sống | 51 |
| Thái tử Tất Đạt Đa và thái tử Thevathat | 52 |
| Lòng nhân hậu của thái tử Tất Đạt Đa đối với những sinh linh chịu khổ đau | 53 |
| Tình thương của thái tử Tất Đạt Đa đối với con thiên nga | 54 |
| Từ chối trao chú chim cho thái tử Thevathat | 55 |
| Phán quyết của Pháp đình | 56 |
| Lòng nhân từ đã cứu sống chú chim | 57 |
| Lễ hội trồng lúa truyền thống | 58 |
| Thái tử Tất Đạt Đa tham dự lễ hội trồng lúa truyền thống | 59 |
| Vua Tịnh Phạn chủ trì buổi lễ | 60 |
| Suy ngẫm của thái tử Tất Đạt Đa về cuộc sống | 61 |
| Suy tư của thái tử Tất Đạt Đa về cuộc sống của loài vật | 62 |
| Suy tư của thái tử Tất Đạt Đa về diễn tiến của cuộc sống | 63 |
| Thái tử Tất Đạt Đa nhận thấy cuộc sống luôn đầy rẫy những khổ đau | 64 |
| Vua Tịnh Phạn trở về hoàng cung sau lễ hội | 65 |
| Vua Tịnh Phạn bắt đầu lo lắng | 66 |
| Những cung điện xây riêng cho thái tử – mỗi mùa một cung điện | 67 |
| Vua Tịnh Phạn nói: “Không điều gì có thể làm cho thái tử hạnh phúc ” | 68 |
| Buổi hội đàm của các bậc hiền nhân, các nhà thông thái và các quan đại thần | 69 |
| Vua Tịnh Phạn đồng ý với kế hoạch | 70 |
| Thái tử kén vợ | 71 |
| Các nàng công chúa xinh đẹp | 72 |
| Thiếu nữ cuối cùng – Công chúa Gia Du Đà La (Yasothara) | 73 |
| Công chúa Gia Du Đà La xin phép được nói | 74 |
| Vua Tịnh Phạn và lời quân sư của các quan đại thần | 75 |
| Lễ hội truyền thống trước lễ cưới | 76 |
| Mũi tên trúng đích của thái tử Tất Đạt Đa | 77 |
| Cuộc thi đấu kiếm | 78 |
| Cuộc thi đua ngựa | 79 |
| Thi tài cưỡi ngựa hoang | 80 |
| Thái tử Orasun phải đầu hàng trước con ngựa bất kham | 81 |
| Thái tử Tất Đạt Đa chinh phục con ngựa hoang | 82 |
| Thái tử Tất Đạt Đa chinh phục được trái tim của chú ngựa | 83 |
| Thái tử Tất Đạt Đa chiến thắng một cách thuyết phục | 84 |
| Lễ thành hôn của thái tử Tất Đạt Đa và công chúa Gia Du Đà La | 85 |
| Niềm hạnh phúc tuyệt đỉnh theo suy nghĩ của người bình thường | 86 |
| Bức tường thành ngăn cách cung điện với thế giới bên ngoài | 87 |
| Những thú vui giả tạo giành cho thái tử | 88 |
| Loan báo về chuyến du ngoạn của thái tử Tất Đạt Đa | 89 |
| Chuyến du ngoạn của thái tử | 90 |
| Sự xuất hiện của bốn vị Đê va trước thái tử | 91 |
| Những nỗ lực hòng ngăn lão già lại | 92 |
| Thái tử rất quan tâm đến hình hài cải trang của bốn vị Đê va | 93 |
| Thái tử Tất Đạt Đa tìm hiểu sự thật về loài người | 94 |
| Thái tử Tất Đạt Đa hỏi về “diễn tiến của cuộc sống” | 95 |
| Thái tử trở về hoàng cung trong nỗi lo lắng | 96 |
| Thái tử nói: "Quy luật tự nhiên diễn ra theo cách riêng của nó" | 97 |
| Đức vua Tịnh Phạn nói: "Điều này vượt ngoài vòng kiểm soát" | 98 |
| Thái tử Tất Đạt Đa cùng Xa Nặc rời khỏi cung điện | 99 |
| Người thợ rèn – Những điều thái tử muốn biết | 100 |
| Thái tử Tất Đạt Đa viếng thăm kinh thành | 101 |
| Quy luật tự nhiên: sinh – lão – bệnh – tử | 102 |
| Thái tử Tất Đạt Đa cố gắng hỏi chuyện người bị bệnh | 103 |
| Xa Nặc ngăn không để thái tử Tất Đạt Đa chạm vào người bệnh | 104 |
| Những đau khổ tự nhiên: Sinh, bệnh, tử | 105 |
| Thái tử Tất Đạt Đa không nguôi nghĩ về những khổ đau của con người | 106 |
| Xa Nặc nói với thái tử rằng “Ai rồi cũng sẽ phải chết” | 107 |
| Sankhara anicca - khi chết đi, thân xác sẽ tiêu tan hết | 108 |
| Thái tử Tất Đạt Đa đặt thêm nhiều câu hỏi cho Xa Nặc | 109 |
| Thái tử Tất Đạt Đa suy ngẫm về những điều mới chứng kiến | 110 |
| Thái tử Tất Đạt Đa gặp một sư tiểu | 111 |
| Mối ràng buộc xuất hiện trong cuộc đời thái tử Tất Đạt Đa | 112 |
| Thái tử Tất Đạt Đa tự nhủ: "Đó chính là nguồn gốc của đau khổ" | 113 |
| Thái tử Tất Đạt Đa biết rõ những đau khổ trong trái tim chàng | 114 |
| Những phát hiện mới của thái tử Tất Đạt Đa về cái đẹp? | 115 |
| Khổ đau do Rupa, Rosa, Sadda, Gandha, Bhodhappa và Dhammarom sinh ra | 116 |
| Thái tử Tất Đạt Đa đến phòng ngủ của vợ lần cuối | 117 |
| Thái tử Tất Đạt Đa buồn bã rời xa cung điện | 118 |
| Trước khi xuống tóc, thái tử Tất Đạt Đa tỏ ra rất tự tin | 119 |
| Thái tử Tất Đạt Đa tự gỡ mình khỏi những mối ràng buộc | 120 |
| Nhờ lòng quyết tâm, thái tử Tất Đạt Đa không hề dao động trước bất kỳ trở ngại nào | 121 |
| Mục đích của thái tử Tất Đạt Đa là mang đến hạnh phúc cho loài người | 122 |
| Thái tử kiên trì tu luyện | 123 |
| Thái tử Tất Đạt Đa nói: "Con người và động vật – tất cả đều có cuộc sống riêng và đều phải đối diện với những nỗi khổ" | 124 |
| Ích kỉ tức là không biết đến nỗi khổ của người khác | 125 |
| Kẻ bị đưa ra làm vật hi sinh sẽ cảm thấy gì đây? | 126 |
| Gieo gió thì gặt bão | 127 |
| Sự quyết tâm của thái tử Tất Đạt Đa | 128 |
| Thái tử Tất Đạt Đa học đạo với đạo sư Ara Karamakoth | 129 |
| Thái tử Tất Đạt Đa đàm đạo với thầy | 130 |
| Thái tử Tất Đạt Đa vẫn chưa thu nạp đủ kiến thức để diệt trừ đau khổ | 131 |
| Thái tử Tất Đạt Đa học đạo ở ngôi trường thứ hai của đạo sư Oudhaka | 132 |
| Cho đến thời điểm này, thái tử đã học đạo của hai thầy giáo | 133 |
| Atta Kila Matthanou Yoga – hành xác | 134 |
| Tiếp tục tu luyện hành xác | 135 |
| Thái tử Tất Đạt Đa bắt đầu tập luyện hành xác | 136 |
| Thái tử Tất Đạt Đa - đánh liều bằng mạng sống của chính mình | 137 |
| Thái tử Tất Đạt Đa nhịn ăn trong 49 ngày | 138 |
| Thái tử Tất Đạt Đa đã hồi tỉnh nhờ uống bát sữa cừu | 139 |
| Bài học từ câu chuyện cây đàn ba dây | 140 |
| Thái tử Tất Đạt Đa đạt được “sati” (chính niệm) và “panya” (trí tuệ) | 141 |
| Thái tử Tất Đạt Đa nói: "Cuộc sống rất đáng quý" | 142 |
| Lệnh bà Sousada cúng dường thái tử cơm đề hồ | 143 |
| Điềm báo từ chiếc bát vàng bên bờ sông Ni Liên Thiền | 145 |
Mãng xà vương Karanak tỉnh giấc vì tiếng va chạm của chiếc bát vàng |
147 |
Bà La Môn Sodhiya dâng tặng thái tử Tất Đạt Đa tám bó cỏ |
147 |
| Tọa cỏ trở thành bảo tọa đắc đạo | 148 |
| Những kí ức buồn, lo lắng và những xáo trộn trong tâm trí thái tử Tất Đạt Đa | 149 |
| Ngự trên bảo toạ, đức Phật đã đẩy lùi các thế lực đen tối | 150-3 |
| Lần thứ hai thái tử Tất Đạt Đa không những phải chế ngự những thế lực trong tâm tưởng mà còn phải chiến đấu với những thế lực ma quỷ từ bên ngoài | 154 |
| Tâm trí yên tịnh – khởi đầu của Định (Samadhi) | 155 |
| Thái tử Tất Đạt Đa đắc đạo và trở thành đức Phật giác ngộ | 156-58 |
| Đức Phật chứng nghiệm "Hạnh phúc giải thoát" (Vimuttusouk) | 159-63 |
Thần Saham Bhrommabodee cầu xin Đức Phật truyền bá đạo pháp |
164 |
Tế độ các vị Pancavakkhy – Năm môn đệ đầu tiên tại rừng Issipattana Mikkhadhayavan |
164 |
| Bài thuyết pháp đầu tiên dành cho các vị Pancavakkhy | 165-72 |
| Hạ thứ nhất của đức Phật | 173-74 |
| Các môn đệ của đức Phật "Sự tuyên bố Tôn giáo Brommajana" | 175-78 |
| Đường tới Niết bàn - Luận giải Pháp Tứ diệu đế | 179 |
| Đức Phật tế độ cho ba anh em phái Satil | 180 |
| Đức Phật tế độ cho đức vua Tần Bà Sa La | 181 |
| Đức Phật thọ lĩnh Tòa tịnh xá đầu tiên | 182-83 |
| Người con có hiếu | 184 |
| Đức Phật giảng giải về những nguyên nhân và thực tế | 185 |
| Đức Phật tế độ cho người thanh niên hiếu kính (I) | 186 |
| Đức Phật tế độ cho người thanh niên hiếu kính (II) | 187 |
| Đức Phật tế độ cho người thanh niên hiếu kính (III) | 188 |
| Pháp Ammatta bất tử | 189 |
| Xá Lợi Phất gặp đức Assasi | 190 |
| Xá Lợi Phất đi theo đức Assasi | 191 |
| Lời giải thích từ đức Assasi | 192 |
| Bốn điều mà đức Assasi đã nói với Xá Lợi Phất | 193 |
| Xá Lợi Phất chứng đạo | 194 |
| Khi đã tìm đến pháp đế thì trí tuệ ắt sẽ phát triển một bậc | 195 |
| Đức Phật và hai đệ tử - “Pháp là ananta, pháp là vô hình, pháp là bất diệt” | 196-97 |
Buổi thuyết pháp lớn của Đức Phật – Buổi thuyết pháp dành cho 184 các A la hán |
198-99 |
| Buổi thuyết pháp dành cho các vị A La Hán vào ngày Maga Puja | 200-01 |
| Đức vua Tịnh Phạn thỉnh mời đức Phật trở về | 202-03 |
| Đức Phật trở về thành Ka Tỳ La Vệ | 204 |
| Đức vua Tịnh Phạn tức giận đứng nhìn | 205 |
| Cơn giận của đức vua Tịnh Phạn | 206 |
| Khất thực không phải là ăn xin mà là một cách tế độ chúng sinh | 207 |
| Đức vua Tịnh Phạn tiếp nhận chiếc bát khất thực từ đức Phật | 208 |
| Đức Phật tế độ cho nhà vua và hoàng hậu | 209 |
| Đức Phật tế độ cho vợ, hoàng hậu Gia Du Đà La | 210 |
| Thái tử Nandha nhận lấy bát khất thực và xuất gia trước ngày hôn lễ | 211-12 |
| Đức Phật đưa đức Nandha lên thăm Thượng giới | 213-14 |
| Thái tử La Hầu La xuất gia, trở thành sư tiểu đầu tiên của nhà Phật | 215-16 |
| Đức Phật trở về hoàng cung tế độ cho vua cha | 217 |
| Hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy và các bà trong hoàng tộc xin được yết kiến đức Phật | 218 |
| Đức Phật từ chối lời thỉnh cầu của hoàng hậu Maha Pasabody | 219 |
| Hoàng hậu Maha Pasabody xin được xuất gia | 220 |
| Tôn giả Anonh đứng ra giải quyết tình huống | 221 |
| Đức Phật từ chối lời cầu xin của Tôn giả Anonh | 222 |
| Tôn giả Anonh một lòng cầu xin | 223 |
| Tôn giả Anonh kiên trì thỉnh cầu | 224 |
| Đức Phật chấp thuận lời thỉnh cầu của Tôn giả Anonh để hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy được xuất gia | 225-7 |
| Tôn giả Anonh báo tin mừng cho hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy | 228 |
| Đức Phật và Tôn giả Anonh đàm luận về việc xuất gia của Tỳ khưu ni | 229 |
| Sự nghiệp giáo hoá và thuyết pháp của Đức Phật từ Hạ thứ 6 đến Hạ thứ 34 | 230-3 |
| Devadhat gây chia rẽ Tăng chúng (Hạ 35-36) | 234 |
| Devadhat tìm mọi cách lôi kéo con trai của vua Tần Bà Sa La | 235 |
| Devadhat xin tách khỏi đức Phật | 236 |
| Devadhat khuyến khích thái tử Asartsattrou chiếm đoạt ngai vàng | 237 |
| Thuê người sát hại đức Phật | 238 |
| Devadhat tự tay sát hại đức Phật | 239-40 |
| Kế hoạch mượn voi dữ để sát hại đức Phật | 241 |
| Điều luật dành cho tăng chúng - đề xuất của đức Devadhat | 242 |
| Lời dạy của đức Phật với tăng chúng | 243 |
| Devadhat với kế hoạch thành lập nhóm tăng chúng mới | 244 |
| Cái chết của Devadhat | 245 |
| Nỗi lo sợ của các tỳ khưu và môn đệ cho sự an nguy của đức Phật | 246 |
| Sự nghiệp giáo hoá của Đức Phật từ Hạ 37 đến 45 | 247-48 |
| Nhập hạ trên thượng giới, ở cõi trời Đạo Lợi tế độ Phật mẫu | 249 |
| Ngự về trần gian sau lễ nhập hạ | 250 |
| Dùng phép mở ra tam giới: Âm phủ, Thượng giới và Hạ giới | 251 |
| Đức Phật nhập hạ tại rừng Lelai | 252-3 |
| Đức Phật nhận sự chăm sóc của voi và khỉ ở rừng Lelai | 254 |
| Khất thực để độ chúng sinh | 255-6 |
| Ngự thăm theo lời thỉnh cầu của các phật tử | 257 |
| Giáo huấn chư Tỳ khưu | 258 |
| Những thắc mắc của Tỳ khưu | 259 |
| Thuyết pháp và tế độ chúng sinh | 260 |
| Việc tắm của đức Phật | 261 |
| Tế độ các Quốc vương cùng quần thần | 262 |
| Bốn tư thế thiền của đức Phật: đi - đứng - ngồi - nằm | 263 |
| Đức Phật từ bi với tất cả chúng sinh | 264 |
| Đức Phật soi sáng cho chúng sinh và những kẻ tìm đến với Pháp đế | 265 |
| Tìm nơi nhập Niết bàn | 266 |
| Ngự đến nơi nhập Niết bàn | 267 |
| Đức Phật đổ bệnh nặng | 268 |
| Hạ thứ 45 của đức Phật | 269 |
| Lời dạy của đức Phật với Tôn giả Anonh | 270 |
| Đức Phật quyết định nhập Niết bàn | 271 |
| Tôn giả Anonh cầu xin Đức Phật tạm lui ngày nhập Niết bàn | 272 |
| Lời dạy cuối cùng của đức Phật với Chư tỳ khưu | 273 |
| Rời thành Vesaly | 274 |
| Bữa ăn cuối cùng của đức Phật tại nhà của Jundha | 275 |
| Trên đường đi, tế độ Pukkussa | 276 |
| Tư thế ngủ của Đức Phật | 277 |
| Nỗi buồn của Tôn giả Anonh | 278 |
| Đức Phật không thấy Tôn giả Anonh | 279 |
| Đức Phật khen ngợi công lao của Tôn giả Anonh | 280 |
| Thỉnh cầu đức Phật chuyển nơi nhập Niết bàn | 281 |
| Thông báo lễ nhập diệt của đức Phật | 282 |
| Đức vua đau buồn khi nghe tin đức Phật nhập diệt | 283 |
| Những nghi vấn của Souphatthapariphasok | 284 |
| Souphatthapariphasok nài xin được vào vấn an đức Phật | 285-6 |
| Souphatthapariphasok xin được xuất gia | 287 |
| Tỳ khưu Souphatthapariphasok – Môn đệ cuối cùng của đức Phật | 288 |
| Lời dạy cuối cùng của đức Phật | 289-90 |
| Đức Phật nhập diệt | 291 |
| Lễ hoả táng đức Phật | 292-5 |
| Những việc xảy ra trong bảy ngày sau lễ hỏa táng đức Phật | 298-99 |
| Danh sách những người có đóng góp vào việc biên soạn cuốn | 300 |
| “Lịch sử đức Phật Cồ Đàm Tất Đạt Đa”, tác giả Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong Hội nghị đầu tiên của chư tăng | 301 |
| Ảnh Ngài Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong | 302-4 |
LỜI GIỚI THIỆU
Mục đích chính của tôi khi biên soạn cuốn sách “Lịch sử Đức Phật Tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa” là muốn cuốn sách trở thành một nguồn tài liệu để các thế hệ sau này, các chư vị Phật tử và những người hành đạo có thể đọc và cảm nhận nó, cũng như dùng trí tuệ của mình để hiểu rõ những điều cơ bản của một chân lý đã tồn tại bấy lâu nay. Ngoài ra, tôi cũng muốn bạn đọc hiểu được ý nghĩa của từ "Tình Yêu", một từ bao hàm rất nhiều ý nghĩa. Chẳng hạn, "Yêu nền văn hoá của một nước cho ta thấy được tính dân tộc của người ấy; "Yêu quý bản thân" là để làm cho bản thân trở nên trong sạch, không bị vướng vào bụi trần. Có rất nhiều cách để thể hiện Tình yêu:
"Tình yêu nội tâm" giúp con người từ bỏ những cám dỗ và ảo tưởng để sống một cuộc sống đạo đức;
"Yêu thích sự mở mang" giúp con người trở nên siêng năng học hỏi;
"Yêu thích sự khoẻ mạnh" hướng con người quan tâm nhiều hơn đến tâm trí tinh thần để luôn được vui vẻ và toại nguyện, đến chế độ ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý.
"Yêu thích sự tiến bộ" hướng con người tìm đến những nấc thang cao hơn trong học vấn.
"Yêu thích sự lịch thiệp" hướng con người tránh xa những lời lẽ và cách cư xử thô tục;
"Yêu thích sự hài lòng" giúp con người gạt đi mọi sự bất mãn;
"Yêu quý bản thân" cũng giống như tình yêu đối với vạn vật. Nếu muốn biết tất cả mọi điều thì tâm trí anh ta lúc nào cũng phải vận động theo sự vận động của sự vật.
"Không nghe theo ai, chỉ nghe theo lẽ phải"
"Không nghe theo ai, chỉ nghe sự thật"
"Không tin ai, chỉ tin vào sự thật"
"Không hành động theo người khác, chỉ hành động theo lẽ phải"
"Nghe theo lẽ phải chính là nghe theo Giáo pháp của Phật"
"Nghe theo lẽ phải chính là chấp hành theo Pháp luật của nhà nước"
"Không hành động theo người khác mà nên làm những việc chính nghĩa hoặc những việc mang lại lợi ích cho bản thân, cho tôn giáo sắc tộc và cho đất nước mình, cho nền văn hoá và gia đình cũng như cho một xã hội luôn tồn tại trong khuôn khổ những luật lệ và nguyên tắc, tức là luật pháp đã được toàn thể nhân dân và xã hội đó thừa nhận."
"Yêu thích Đạo Phật thì phải thực hành theo Giáo pháp của Phật. Những giáo pháp đó dạy chúng ta về giá trị và sự bình đẳng trong cuộc sống của muôn loài, bao gồm cả cuộc sống của loài vật, không phân biệt nguồn gốc xuất thân. Mọi loài đều có chung một số mệnh: cùng sinh ra trên trái đất này, cùng già đi và cùng phải chịu ốm đau bệnh tật. Như vậy, không có sự khác biệt nào, ngoại trừ một khác biệt duy nhất, đó là cuộc sống con người là của con người còn cuộc sống loài vật là của loài vật."
"Yêu thích Đạo Phật thì nên hành thiền và làm theo giáo pháp của đức Phật. Khi gặp bất kỳ chuyện đau khổ nào, người ấy phải nỗ lực để loại bỏ những đau khổ đó đi. Khi có bất cứ niềm hạnh phúc nào trong cuộc đời, người ấy phải luôn luôn bảo vệ và duy trì hạnh phúc đó.
Nếu có trí tuệ nào chưa chứng ngộ được, ta phải kiên trì luyện tập và hành thiền cho đến khi chứng ngộ được trí tuệ ấy mới thôi. Nếu có chính niệm (Sati) nào chưa chứng ngộ được thì phải tích cực luyện tập không được dễ duôi, khi đã chứng ngộ được chính niệm đó thì phải hướng suy nghĩ đến những điều cao đẹp. Khi tâm thức (Cita) bị dao động, phải nỗ lực diệt trừ mọi phiền não, bất mãn, rối loạn. Nếu tâm thức không có căn nguyên của nó thì ta phải tích cực hành thiền để loại bỏ những phiền não và tâm thức chán nản đó đi.
Khi tâm thức đã được an tịnh, cơ thể cũng sẽ được an tịnh, đó là lúc trí tuệ được nâng lên một bậc. Như vậy có thể kết luận rằng "loài người là cao quý nhất" vì một người thông minh có thể chứng ngộ được bất cứ điều gì mà người ấy mong muốn trong cuộc sống. Kết quả là, đau khổ bị diệt trừ và thay vào đó là hạnh phúc sẽ đến. Người ấy sẽ thấy được cõi Niết bàn, chinh phục được Brommajana và chứng quả A la hán. Đây là cách mà đạo Phật đã chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta phải tự suy xét chính mình. Đây cũng chính là cách đạo Phật dạy con người tự bảo vệ mình để thoát khỏi đau khổ
"Yêu gia đình sẽ mang lại sự thịnh vượng"
"Yêu quê hương đất nước sẽ giúp phát triển cộng đồng"
"Yêu đền chùa và tôn giáo sẽ góp phần bảo tồn đền chùa và tôn giáo đó"
"Yêu đất nước thì phải trở thành một công dân tốt và biết tôn trọng luật pháp"
"Yêu rừng cây sẽ góp phần tạo nên một thiên nhiên giàu đẹp"
"Yêu sông suối sẽ góp phần làm phong phú các loài thuỷ sinh"
"Yêu đồng ruộng sẽ góp phần tạo ra nhiều nông phẩm"
"Yêu cha mẹ nhắc nhở con người về lòng biết ơn"
"Yêu thầy cô giáo khiến con người siêng học"
"Kính trọng các tăng sĩ Phật giáo thì phải lắng nghe và thực hành theo giáo pháp của đức Phật. Đây chính là nguồn gốc lịch sử của Đạo Phật do thái tử Tất Đạt Đa khám phá ra và mang đến cho chúng sinh của cả “Năm thế giới” và là tôn giáo đã và đang được thực hành cho đến tận ngày nay"
Vì lí do này, tôi đã biên soạn cuốn sách theo những nguyên tắc của Đạo Phật đã được chúng sinh của cả “Năm thế giới” thừa nhận. “Năm thế giới” gồm có "thế giới của Bhromma, Deva, Naga, Human và Yomma"
Mano Puphang Khama Dhamma * Mano Settha Mano Maya *
Manasace Pathutthena * Pasativa Palotiva *
Tatonang Dhukkhaman Veti * Cakkang Vava Dhatopathang *
Nghĩa là:
Trong tất cả các Pháp, Trí tuệ là quan trọng nhất, được xếp ở vị trí lãnh đạo. Thành công tại trí. Nếu một người có tâm hồn không trong sáng, thì dù trong hành động hay lời nói, người đó đều phải chịu Dhukkha (khổ) là điều mà con người luôn luôn phải đối mặt trong cuộc sống. Điều này cũng tương tự trường hợp những cái bánh xe của một chiếc xe bò, những bánh xe đó chỉ biết lăn theo con bò, bò dừng thì bánh xe cũng dừng.
Mano Puphang Khama Dhamma * Mano Settha Mano Maya *
Manasace Pasan nena * Pasativa kalotiva *
Tatonang Sukkhaman Veti * Sayava Anupayini *
Nghĩa là:
Trong tất cả các Pháp, Trí tuệ là quan trọng nhất, được xếp ở vị trí lãnh đạo. Thành công tại trí. Nếu một người có tâm hồn trong sáng thì dù trong hành động hay lời nói, người ấy cũng được hưởng an vui hạnh phúc. Có thể ví với cái bóng, lúc nào cũng đi theo vật chủ của nó.
70/72 Linwood Street , Malden , Massachusetts 02148 -7127
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - Boston, 1 tháng 1 năm 1998
Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong
Mười kiếp sống của một Bồ Tát
Bây giờ tôi xin được giải thích ngắn gọn về lời giảng đạo của tôi liên quan đến mười kiếp sống của một Bồ Tát để thế hệ trẻ có cơ hội được đọc và lưu truyền cho các thế hệ sau nữa.
Tu tích Ba la mật trong mười kiếp sống cuối
Mười kiếp sống cuối cùng của vị Bồ Tát (sau này đầu thai thành thái tử Tất Đạt Đa) trước khi trở thành Phật có thể được tóm tắt như sau:
1. Phra Teme – Tích lũy Xuất gia Ba la mật ( Nakkemma Paramee ), chịu đựng vô vàn đau khổ trong 16 năm để Ngài có thể tiếp tục công cuộc kiếm tìm Mokha Dhamma để đương đầu với đau khổ;
2. Phra Mahasadock – Tích lũy Tinh tấn Ba la mật ( Viriya Paramee ), Ngài được đặt trên một cái bè, thả trôi lênh đênh, Ngài đã chống chọi với phiền não và cuối cùng đã thoát khỏi tình cảnh khó khăn;
3. Phra Chao Souvannasam – Tích lũy Tâm từ Ba la mật ( Metta Paramee ), để mọi chúng sinh trên thế gian cùng nhau sống hạnh phúc và biết nhận thức giá trị của cuộc sống mà không gây phiền hà đến nhau;
4. Phra Chao Nemerath – Tích lũy Phát nguyện Ba la mật ( Adahithana Paramee ) để dạy mọi người cách tạo nghiệp thiện và biết xấu hổ khi gây ra nghiệp ác.
5. Phra Chao Mahosoth - Tích lũy Trí tuệ Ba la mật ( Panya Paramee ) để chỉ dạy mọi người cách sống có kỷ luật, chứng ngộ được các nguyên tắc của Phật pháp, điều gì đúng, điều gì sai, thế nào là nghiệp thiện ác và hiểu được điều gì mang lại lợi ích cho bản thân và cho người khác;
6. Phra Chao Phouridhat – Tích lũy Trì giới Ba la mật để dạy mọi người cách kiềm chế các hành động trả thù, không gây hiểu lầm, không ngoại tình, không nói lời giả dối, không ăn cắp hay lấy những vật thuộc sở hữu của người khác mà không xin phép;
7. Phra Chao Chandhakoumarn – Tích lũy Nhẫn nại Ba la mật ( Khanti Paramee ) để dạy mọi người biết nhẫn nhịn, hành động hợp lý và sống chân thật, sống thanh tịnh;
8. Phra Chao Rattanaphol – Tích lũy Tâm xả Ba la mật ( Upekka Paramee ) để dạy mọi người biết cách tự kiềm chế không vi phạm Giới luật, không ích kỉ và trên hết là phải chân thành và trung thực, phải biết cách tha thứ;
9. Phra Chao Vithoul – Tích lũy Chân thật Ba la mật ( Sacca Paramee ) để dạy mọi người biết cách cẩn trọng, luôn tỉnh táo, không nói quá về bản thân và quan trọng nhất là phải duy trì nguyên tắc sự thật;
10. Phra Vetsandorn – Đây là kiếp sống thứ 10 của vị Bồ tát. Trong kiếp này, Bồ tát đã tích lũy Bố thí Ba la mật ( Dhana Paramee ), mục đích là để dạy cho mọi người biết cách tự giải thoát cho bản thân, ví dụ:
“Tháo bỏ sợi dây khỏi cổ – Bố thí con cái”
“Tháo bỏ sợi dây khỏi tay – Bố thí người vợ”
“Tháo bỏ sợi dây khỏi chân – Bố thí tài sản”
Thêm vào đó, thực hành Ba la mật cũng là cách để chỉ dạy con người biết tôn kính cha mẹ, thầy giáo, dạy các cặp vợ chồng biết sống trong giới hạn của các giá trị truyền thống, thành thật với nhau, biết tiết kiệm, biết cẩn thận khi dùng đồ của người khác, biết tạo nghiệp lành để có được hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại và cả các kiếp sau này. Đây là mười kiếp sống cuối cùng của một vị Bồ Tát và kiếp sống thứ 10 Ngài sống cuộc đời của Phra Vetsandorn . Ngay sau kiếp sống này, Ngài xuống hạ giới đầu thai thành thái tử Tất Đạt Đa.
Thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ cuộc sống sung sướng trong cung điện và bắt đầu cuộc tìm kiếm Mokkha Dhamma cho đến khi đắc quả Giác ngộ mà không cần sự hướng dẫn của bất kì vị đạo sư nào. Những cái tên Cồ Đàm, Tất Đạt Đa và Phật đều cùng nói về một người.
Phra Boromma Srionxay chính là vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Phoutsady chính là hoàng hậu Siri Maha Maya. Hai vị này là cha và mẹ của đức Phật.
Nang Matdhy chính là Nang Phimpha (Gia du đà la), vợ của thái tử Tất Đạt Đa. Thao Saly là La Hầu La , con trai của thái tử Tất Đạt Đa. Nang Kanha là Tỳ khưu ni Uparavannadhera.
Phra Vetsandorn là Thái tử Tất Đạt Đa , người đã tu tích Ba la mật trong 10 kiếp sống cuối. Trong kiếp sống thứ 11, Ngài đã thành tựu điều mà ngài mong muốn, đó là vào một buổi sáng sớm ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, sau sáu năm vất vả tìm kiếm, Ngài đã tìm ra Mokkha Dhamma , đắc quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác trở thành Phật.
CỐNG HIẾN CÔNG ĐỨC
Nhân dịp này, Tôi, Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong - Hoà Thượng, với tấm lòng chân thành và thuần khiết, xin được cống hiến những công đức mà tôi đã tích lũy được cho mọi chúng sinh như sau:
Buddha Rattanang Dhamma Rattanang Sangha Rattanang
Buddha Parisitdhime - Dhamma Parisitdhime - Sangha Parisitdhime
Bhummanang Devanang Satdhang Suttava Arakkhara Dhevata Samutdha
Bhutung Khangkhaca Sitdhi Sabbha Bhavantume
Bằng nh ững công đức tôi đã làm, tôi muốn kêu gọi quyền năng của Phật, Pháp, Tăng, trong quá khứ, hiện tại và tương lai hãy tụ hội thành một.
Buddha Nubhavena Sabbuddha Nubhavena
Dhamma Nubhavena Sabdhamma Nubhavena
Sangha Nubhavena Sabbha Sangha Nubhavena
Cầu cho mọi quyền năng hãy tụ hội thành một để phù hộ cho những công đức của tôi, gồm tu bố thí, thiền định và trì giới, bất kể trong quá khứ, hiện tại hay tương lai, có thể chiếu sáng để mọi chúng sinh Bhromma Loka và Manusa Loka được hưởng hạnh phúc. Cầu cho chúng sinh, bao gồm chúng sinh cõi Trời, Manusa và mọi loài vật trên thế gian này được giải thoát khỏi đau khổ, đau yếu, bệnh tật. Đối với những vị đã có đóng góp về thời gian, công sức, tiền bạc để cuốn sách này được ra đời, bất kể vật chất hay tinh thần, những vị là bậc cha mẹ, đạo sư, thầy giáo, những người đang vay nợ và toàn thể Phật tử, tôi muốn kêu gọi tất cả quyền năng của những công đức mà tôi đã tích lũy trong quá khứ hiện tại và tương lai hãy bảo vệ họ trước những hiểm nguy, tổn hại, đau yếu, bệnh tật, cầu chúc họ được hạnh phúc, mạnh khoẻ, sống lâu và trên hết là được giải thoát khỏi mọi đau khổ trên đời.
Sadhu Anumodhami.
Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong-Thầy Hoà Thượng
LỜI CỦA DỊCH GIẢ
Trước tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong vì Ngài đã cho tôi cơ hội được dịch cuốn sách “ Cuộc đời Đức Phật Tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa” từ tiếng Anh sang tiếng Việt vì lợi ích của toàn thể tín đồ Phật giáo. Tôi đến với tác phẩm "Cuộc đời đức Phật tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa" hết sức tình cờ và cho đó là một cơ may mà không phải ai cũng có.Tôi bắt tay vào dịch tác phẩm trong thời gian đang tạm nghỉ để chuyển đổi một công việc mới. Có lẽ nhờ sự "không may" đó mà bản dịch đã được đầu tư một thời gian tương đối dài. Đối với tôi, dịch một tác phẩm mang tính tôn giáo như "Cuộc đời đức Phật Tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa" có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Thông thường, khi dịch một tác phẩm, một tài liệu hay một bài viết, chúng ta đã ít nhiều có một vốn kiến thức liên quan đến lĩnh vực sẽ dịch, công việc còn lại là vận dụng những kiến thức đó để truyền tải nội dung từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Thế nhưng, đến tác phẩm này, phải thú thực với quý vị rằng, tất cả những gì tôi có là tính kiên trì và một chút thiên hướng trong tính cách thiên về lĩnh vực xã hội-tôn giáo. Vậy là, để dịch được tác phẩm, tôi đã phải trải qua một khoá "tự đào tạo" kiến thức về Phật giáo (qua sách vở, qua internet, qua trao đổi với những người am hiểu về Phật giáo,...). Kết quả là sau khi hoàn thành việc dịch tác phẩm, tôi mới bất ngờ nhận ra rằng, những gì tôi làm trong thời gian vừa qua không chỉ dừng lại ở việc dịch một tác phẩm mà là lĩnh hội một kiến thức mới. Tôi đã hiểu được Sinh - Lão - Bệnh - Tử chỉ là chuyện vô thường mà ai ai cũng sẽ phải trải qua. Điều quan trọng là khi đang sống trong cuộc đời này, phải biết yêu quý bản thân, yêu quý gia đình, yêu quý những thứ đang hiện hữu quanh ta, sống phải với lương tâm, phải không ngừng làm việc thiện, ấy chính là chúng ta đang tu tích nghiệp thiện cho kiếp sống hiện tại cũng như các kiếp sống sau này. Lời cuối cùng, cho phép tôi được cảm ơn những người, dù trực tiếp hay gián tiếp đã mang đến cho tôi cơ hội được tiếp cận và dịch tác phẩm này; đặc biệt cám ơn Ngài Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong đã giành thời gian và đặt niềm tin nơi tôi để tôi hoàn thành tác phẩm này. Ngoài ra, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới chị tôi là chị Bùi Thị Thủy vì những đóng góp rất quan trọng trong việc hiệu đính bản dịch cuốn sách mà các bạn đang đọc. Nếu không có sự giúp đỡ của chị, bản dịch chắc chắn đã gặp rất nhiều khó khăn. Cuối cùng, tôi cầu chúc cho những người đã cùng tôi tham gia dịch tác phẩm này, cũng như mọi chúng sinh trên thế gian này được hạnh phúc, khoẻ mạnh, sống hoà thuận với nhau và trên hết là được giải thoát khỏi mọi khổ đau trong cuộc sống, không chỉ trong kiếp này mà cả những kiếp sau nữa. Sadhu Anumodhami.
Trần Quỳnh Chi
Hà nội - Việt Nam
10/10/2006
THÔNG ĐIỆP CỦA GIÁO PHÁP
Kể từ lúc này, các bạn sẽ biết và hiểu được nguồn gốc của Đạo Phật và người đã mang Đạo Phật đến với thế gian này. Tôi muốn giải thích ngắn gọn ý nghĩa của từ “Bud”. “Bud” có nghĩa là “Đấng giác ngộ, Đấng thức tỉnh”. Đức Phật là Đấng giác ngộ khỏi Dukkha. Đức Phật là Đấng giác ngộ khỏi Sinh, Lão, Bệnh, Tử, phiền não, suy tàn; khỏi quá trình sáng tạo của tạo hoá, chính là nguyên nhân gây ra đau khổ cho loài người. Khi đức Phật đã giác ngộ, đó là lúc Ngài đắc được chữ “Dho”, nghĩa là biết và hiểu được “những hậu quả", những đau khổ, hiểu được quá trình sinh, lão, bệnh, tử – những yếu tố vẫn được biết đến là ‘Dhamma Anandha Dhamma', nghĩa là “Vô xác”. Dhamma là bất tử. Dhamma là lẽ phải. Dhamma không bao giờ chết. Dhamma không bao giờ đau yếu. Dhamma không bao giờ già đi. Dhamma không bao giờ bị suy tàn, diệt vong. Nếu Dhamma bị diệt vong thì đó chỉ là vì con người chủ tâm làm điều đó. Lẽ phải không thể bị diệt vong. Lẽ phải không thể chết. Lẽ phải sẽ tồn tại mãi mãi. Tương tự như vậy, Tình Yêu cũng không thể chết, chỉ có Sinh, Tử và Bệnh bị tiêu tan bởi vì chúng đều có nguyên nhân sinh ra. Mặc dù con người ai rồi cũng sẽ chết đi nhưng đ ạo đức và lòng nhân t ừ , những công đức mà họ đã làm thì vẫn tồn tại mãi mãi. Hãy nhìn những tượng đài, những di tích kỉ niệm mà chúng ta vẫn thấy hàng ngày, hãy nhìn tượng Phật, đền chùa, giáo pháp của đức Phật, tượng đài của những vị anh hùng, tất cả vẫn còn đó với nguyên vẹn giá trị. Ngược lại, đối với những người đã tạo nghiệp ác, ngay cả khi đã ch ết đi thì những gì họ đã làm vẫn sẽ tồn tại mãi mãi, phải chịu sự chê trách của người đời. Yêu thương một người bằng “Tình yêu bất diệt” là làm cho tình yêu đó mãi còn nguyên vẹn mặc dù người ấy qua đời từ rất lâu. Tình yêu đó sẽ mãi tồn tại và được tôn vinh . Trong tình yêu không tồn tại Dukkha, không có đau buồn, và không thể bị diệt vong. Ví dụ, Tượng đài tình yêu Tajmahal ở Ấn Độ; giá trị tinh thần của ngày Valentine, ngày lễ Cha lễ Mẹ; còn trong đạo Phật thì đó là ngày kỷ niệm Thái tử Tất Đạt Đa ra đời, đắc đạo và nhập Đại Niết Bàn. Tình yêu sẽ tồn tại và mãi được tôn vinh. Một gia đình tràn ngập tình yêu sẽ luôn phát đạt và hạnh phúc. Một đất nước tràn ngập tình yêu sẽ luôn thịnh vượng và phát triển. Đối với mỗi cá nhân chúng ta, chúng ta càng chăm sóc, yêu thương bản thân thì chúng ta càng tránh được những khổ đau phiền não. Đây chính là nguồn gốc của câu “Sống phải biết thờ phụng và tạ ơn”. Chúng ta nên biết ơn cha mẹ, thầy giáo, những mạnh thường quân, những người đã cho ta cuộc sống, cho ta kiến thức để diệt trừ vô minh, đã hỗ trợ giúp đỡ ta, họ xứng đáng được tôn trọng. Về phương diện Phật giáo, cha mẹ đã sinh ra ta, thầy giáo đã dạy dỗ ta. Đức Phật được sinh ra trong một gia đình phàm trần, Ngài đã chứng được Chánh Tri Kiến từ những điều xung quanh ta. Nhưng đức Phật là người đầu tiên thức tỉnh và nhận ra được chân lý tối hậu, Ngài muốn tất cả chúng ta đều có thể theo gương ngài. Lòng nhân từ và đạo đức là bất diệt và sẽ mãi mãi được tôn vinh. Bằng chứng là chúng ta vẫn tổ chức những ngày lễ kỷ niệm để tưởng nhớ sự hi sinh cao cả của các vị anh hùng trong quá khứ, dâng hoa thơm lên những tượng đài hay di tích đó. Còn về tôn giáo thì đạo giáo nào cũng có những ngày lễ kỷ niệm riêng. Chẳng hạn, trong Phật giáo, những ngày lễ lớn đã được tổ chức đều đặn trong suốt 2541 năm qua để nhớ về những đóng góp của đức Phật và những ngày lễ này sẽ vẫn được duy trì cho đến năm 5000. Trong Cơ đốc giáo, ngày lễ Noel được tổ chức trên khắp thế giới để tưởng nhớ ngày chúa Jesus ra đời. Điều này giải thích tại sao tôi lại nói rằng lòng nhân từ là bất diệt và sẽ mãi được tôn vinh, mặc dù tội ác cũng là bất diệt nhưng mãi mãi để tiếng xấu ở đời. Ví dụ, sự tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai: ở Nhật, hai thành phố bị bom nguyên tử phá hủy; ở Đức, trong ngôi nhà Duck, hàng trăm ngàn người bị ngạt khí độc cho đến chết; ở Cam-pu-chia, trên những vùng đất chết, hàng trăm ngàn người bị tàn sát, tra tấn dã man cho đến chết. Tình yêu là bất diệt. Ở Ấn Độ, tượng đài Tình yêu lớn nhất thế giới, tượng Tajmahal, là do một vị vua Ấn Độ xây nên để thể hiện tình yêu mà Ngài dành cho hoàng hậu của mình. Ở Ý, thánh Valentine đã hi sinh cuộc đời của mình vì tình yêu đối với tôn giáo. Thời ấy, đạo Cơ đốc bị cấm ở thành Rome nên Ngài đã bị kết án tử hình và sau đó bị hành quyết. Người dân trên khắp thế giới đã tưởng nhớ đến sự hi sinh của ngài và đã lấy luôn ngày mà ngài bị hành quyết là ngày Valentine. Bởi vậy, một vị Bồ Tát dù được sinh ra thuộc tín ngưỡng tôn giáo nào thì cũng là để dạy mọi người phải biết thương yêu nhau, cùng chung sống trong hoà bình, biết giúp đỡ lẫn nhau, hiểu được giá trị cuộc sống của mình cũng như của người khác. Giữa con người và loài vật thì tình cảm, sự tương trợ đó cũng không thay đổi bởi vì tất cả chúng ta đều chịu chung một số mệnh, tức là đều phải trải qua đầy đủ những cái vô thường trên đời như Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Chỉ có một điều khác biệt duy nhất đó là, một bên là con người còn một bên là loài vật. Cả hai đều có chung ước nguyện: không muốn chết, chỉ muốn được sống trong hoà bình, không phải chịu bất kỳ khổ đau phiền não nào trên đời. Cả hai đều sợ tội ác – nguyên nhân gây ra mọi đau đớn và tan nát. Đức Phật đã hi sinh tất cả mọi thứ mà Ngài có. Hãy để ý ngày Ngài sinh ra, ngày Ngài quyết định xuất gia tu hành, ngày Ngài đắc quả Giác ngộ và nhập Niết bàn. Chúng ta đều biết rõ những sự kiện đã diễn ra trong cuộc đời Ngài: Chào đời trong khu vườn Lâm Tì Ni, khu biên giới giữa thành Ka Tỳ La Vệ và thành Devathahs; Rời bỏ cung điện và xuống tóc trong một khu rừng bên bờ sông Ni Liên Thiền; Đắc đạo ở cội cây Bồ Đề; Nhập diệt giữa hai gốc cây Vô Ưu trong một khu rừng ở phía ngoài thành Câu Thi Na (Kushinara). Không có một sự kiện quan trọng nào diễn ra trong cung điện, trong thành phố hay những chốn thần thánh. Bởi vậy, chúng ta có thể thấy rằng, không nhất thiết phải ở trong thành phố, cung điện hay đền chùa miếu mạo thì mới tu tích được công đức. Hãy làm điều thiện xuất phát từ chính trái tim, làm bằng trí tuệ và lí trí của chúng ta. Bây giờ, tôi muốn nhấn mạnh đến hai chữ “BUDDHO”. “BUD” có nghĩa là thức tỉnh còn “DHO” có nghĩa là hiểu và biết. Phật là người đầu tiên thức tỉnh và mong muốn mọi người hãy theo bước chân Ngài. Điều cốt lõi của Đạo Phật trong Phạn ngữ chính là “Buddho”, bắt nguồn từ Anapanasati, tức là “Thức tỉnh và Hiểu biết bằng trí tuệ của cảm giác”. Con người sống nhờ hô hấp và hiểu biết nhờ vào trí tuệ. Tôi đã kết hợp hai từ này với nhau, và đó là kết tinh của 40 Kammathana trong Đạo Phật. Đây là những nguyên tắc của Hành Thiền trong đạo Phật mà chúng ta vẫn thường gọi là Vinaya (luật tạng hay giới luật). Tất cả những giới luật này đều do đức Phật đặt ra và tất cả chư vị Phật tử đều phải tuân thủ để hành theo. Giờ đây, tôi muốn giải thích ngắn gọn về hậu quả của sự phá hủy và tan nát. Sự tan nát là nguồn gốc của Khổ (Dukkha), Khổ là nguồn gốc của sự ích kỉ, ích kỷ là nguồn gốc của tham lam, tham lam là nguồn gốc của Nghiệp. Có hai loại Nghiệp: nghiệp thiện và nghiệp ác, được phân chia thành Vatdhacak “Vòng đời”. Vatdhacak là nguồn gốc của Loka. Loka là nguồn gốc của Hành (Sankhara). Hành lại bắt nguồn từ sự khởi tạo riêng của nó. Sự khởi tạo bắt nguồn từ những phản ứng của cảm xúc và những điều khác nữa trên thế gian này. Nói tóm lại, nếu chúng ta không có Sati (tâm thức), chúng ta sẽ chỉ là nô lệ của lòng tham lam, mà lòng tham lam lại bao gồm ngàn vạn cái phiền não. Bởi vậy, tôi muốn dành tặng quý vị hai từ ‘BUDDHO' để quý vị không trở thành nô lệ của sự ích kỷ. Hãy tinh tấn tập luyện – thức tỉnh và hiểu được BUDDHO. Cuối cùng, tôi muốn gửi đến chư vị Phật tử cuốn sách này, các vị hãy coi đây như là một món quà Giáo pháp. Xin cầu chúc cho tất cả sẽ được giác ngộ, hiểu được Khổ (Dukkha), hiểu được các hậu quả, hiểu được Sắc (Rupa) và Hành (Sankhara), biết được cách sống, cách đối nhân xử thế và cầu chúc quý vị vạn sự như ý. Sadhu Anumodhami.
Phật chúc phúc cho tất cả chúng sinh Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong
Buddhist Centre ‘Wat That Luang' Canberra Inc
1 Shand Place , Latham CANBERRA 2615 ( Australia )
Ấn Độ là một đất nước nằm ở phía Nam lục địa châu Á. Dãy núi Himalaya hùng vĩ là đỉnh cao nhất thế giới cũng nằm trên địa phận Ấn Độ.

Trước khi Phật giáo ra đời, đức Bồ Tát Vetsandhol sống trên cõi trời Đâu suất (Dusitta). Chư thiên ở các cõi Sắc giới họp bàn để chọn ra một vị Bồ Tát thích hợp nhất rồi thỉnh cầu vị ấy xuống trần gian để đắc đạo trở thành đức Phật. Họ nhất trí rằng đức Bồ Tát trên cõi trời Đâu suất là người thích hợp nhất vì vị này đã tích luỹ Ba la mật trong các kiếp sống trước chỉ với mục đích là chứng quả giác ngộ và trở thành đức Phật. Một khi Ngài thành Phật thì mọi chúng sinh trên thế gian sẽ được Ngài tế độ và chỉ cho con đường giải thoát khỏi mọi nỗi khổ (dukkha).

Đức vua Tịnh Phạn (Sri Soudhothana) và hoàng hậu Siri Maha Mada (Siri Maha Maya) mới thành hôn. Ngày mà đức Bồ Tát Vetsandhol đầu thai xuống hạ giới là ngày rằm tháng Tám năm Tuất. Vào ngày đó, hoàng hậu Siri Maha Mada đã nằm chiêm bao thấy bà đang ở trong một khu rừng, bỗng đâu từ trên núi xuất hiện một con bạch tượng mỗi lúc lại tiến đến gần bà. Vào đúng ngày mà đức Bồ Tát đầu thai vào hoàng hậu đã xảy ra một sự việc rất kì lạ, giống hệt như ngày mà đức Bồ Tát được sinh ra. Cả trái đất rung chuyển, báo hiệu rằng người mù sắp được nhìn còn kẻ điếc sắp được nghe. Đó là điềm báo về sự ra đời của một vị Phật mà những giáo pháp của Ngài có thể tế độ và truyền giảng cho tất cả mọi chúng sinh trên toàn cõi thế gian. Người mù hay kẻ điếc là để chỉ những người trong lòng chất chứa nhiều phiền não, nhưng một khi đã được tiếp thu Phật pháp thì sẽ trở nên thông tuệ và có thể tìm ra con đường giải thoát khỏi mọi sự khổ đau.

Miền đất Ấn Độ thời đó có rất nhiều thành phố, nhưng chỉ có một thành phố mang tên Ka Tỳ La Vệ là nơi thái tử Tất Đạt Đa được sinh ra. Thành Ka Tỳ La Vệ nằm trong khu rừng Teak gần với nhà Gươm được đặt theo tên của một nhà hiền triết, tên là "Okbil". Đây là lý do tại sao thành phố lại mang tên Ka Tỳ La Vệ. Thành Ka Tỳ La Vệ đã được đặt dưới sự cai trị của nhiều đời vua, trong đó có dòng họ Thích ca (Sakayavong). Thời đó, trị vì thành phố là đức vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Siri Maha Mada, chính là cha và mẹ của thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha).

Trước khi thái tử Tất Đạt Đa ra đời, vào một buổi sáng sớm thứ Năm, ngày rằm tháng Tám năm Dậu, hoàng hậu Siri Maha Mada đã chiêm bao thấy một con bạch tượng dâng cho bà một bông sen hái từ ngọn núi vàng bạc. Ngay sau đó, hoàng hậu đã thụ thai. Trong suốt mười tháng mang thai, hoàng hậu luôn nghĩ rằng bà cần trở về thành Thiên Tý ( Devathaha City ) để sinh con.

Trong một thời gian dài, vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Siri Maha Mada đã sống rất hạnh phúc bên nhau. Vào lúc sắp sinh thái tử, hoàng hậu xin phép đức vua được trở về quê cha để sinh con. Đức vua chấp thuận và đã đặc phái người hộ tống hoàng hậu về quê nhà.

Tại vùng biên giới giữa hai thành phố có khu vườn Lâm Tì Ni (Lumbini). Tại nơi đây, người dân sống ở hai thành phố thường lui tới nghỉ hè dưới bóng những cây Vô Ưu (Sara) khổng lồ. Nơi đây chim hót líu lo trong cảnh rừng thiên nhiên, thật đúng là một chốn nghỉ ngơi lý tưởng. Đây chính là nơi sinh ra đời một đứa trẻ mà sau này sẽ trở thành đức Phật.

Hôm đó là thứ Sáu ngày rằm tháng Sáu theo âm lịch (Tháng Năm), đoàn tùy tùng của hoàng hậu đã đến vườn Lâm Tỳ Ni. Ngay trước giờ Ngọ, hoàng hậu có ý muốn nghỉ ngơi dưới gốc cây, bà liền cho đoàn tùy tùng dừng lại. Khi đang thưởng thức tiếng chim ca hót cùng với cảnh đẹp nơi này, hoàng hậu đã hạ sinh thái tử ngay dưới gốc cây Vô Ưu. Vậy là thái tử sinh vào ngày rằm tháng Sáu âm lịch, năm Tuất, 80 năm trước kỷ nguyên Phật giáo. Ngày sinh của thái tử vô cùng đặc biệt bởi lẽ nó trùng với ngày thái tử đắc đạo trở thành đức Phật và ngày nhập Niết bàn. Đây cũng là ngày sinh của: ( 1) Công chúa Gia Du Đà La , (2) đức Anonh, (3) Ngài Sandha , (4) Ngài Karudhayi (quan đại thần) , (5) Con tuấn mã Kiền Trắc (Kandhaka), (6) Cây Bồ đề và (7) những vật giá trị khác .

Sau khi hoàng hậu Siri Maha Mada sinh thái tử, đoàn tùy tùng phải tất bật chăm sóc hoàng hậu và thái tử mới sinh, rồi sau đó hộ tống trở về thành Ka Tỳ La Vệ. Nghe tin hoàng hậu hạ sinh, đức vua trong lòng nôn nóng mong sớm được trông thấy thái tử. Ngài đã hạ lệnh cho đám hầu cận phải hết sức trông nom săn sóc hoàng hậu và thái tử.

Ở phía ngoài thành có rất nhiều bậc hiền nhân, trong số đó Karadhevin được coi là giỏi nhất, được đức vua và dân chúng hết sức kính trọng. Nghe tin đức vua đã có thái tử, lại được Chư Thiên báo mộng, ông lập tức tới ngay hoàng cung.

Khi hiền nhân Karadhevin đã vào tới hoàng cung, đức vua mong được ông chúc phúc cho thái tử nên đã truyền lệnh đưa thái tử đến trước mặt hiền nhân. Sau khi đã ngắm kỹ thái tử mới ra đời, Karadhevin hết sức hài lòng. Thái tử có đầy đủ mọi phẩm chất mà bất cứ ai cũng phải mong ước. Nhưng sau đó, hai dòng nước mắt từ từ lăn trên đôi gò má ông, rồi cuối cùng ông bật khóc đầy vẻ thất vọng.

Vua Tịnh Phạn lo lắng hỏi nguyên do khiến ông khóc. Hiền nhân thưa với đức vua rằng thái tử sinh ra với những phẩm chất cao đẹp nhất, tương lai sẽ trở thành đấng Đại đạo sư của loài người trên khắp thế gian, ông khóc vì tuổi đã cao không thể chờ được đến ngày đó. Sau đó, ông cúi đầu đảnh lễ trước thái tử. đức vua cũng làm theo.

Đức vua cho triệu mời tất cả các nhà thông thái và bậc hiền nhân vào cung để làm lễ đặt tên cho thái tử. Cuối cùng tất cả đều nhất trí đặt tên cho thái tử là Tất Đạt Đa với ý nghĩa là người sẽ đạt được bất cứ điều gì mong muốn.

Theo tiên đoán của các vị tiên tri, nếu trị vì vương quốc, thái tử sẽ trở thành bậc thánh vương muôn đời. Nhưng nếu thái tử quyết định từ rã cung điện sống cuộc đời ẩn dật, người sẽ trở thành bậc đạo sư của loài người. Trong số các vị tiên tri có mặt tại hoàng cung lúc đó, có một vị trẻ tuổi tên là Kiều Trần Như (Kodanya). Vị tiên tri này đã quả quyết rằng khi thái tử Tất Đạt Đa trưởng thành, chàng nhất định sẽ từ giã hoàng cung để trở thành một tăng sĩ. Chàng sẽ chứng đạo quả giác ngộ và trở thành Phật.

Vua Tịnh Phạn vô cùng hài lòng với lời tiên đoán rằng thái tử sẽ trở thành bậc thánh vương, nhưng ngược lại, rất khó chịu với lời tiên đoán rằng thái tử sẽ rời bỏ hoàng cung trở thành tăng sĩ, chứng đạo quả giác ngộ và đi truyền giáo khắp thế gian. Đức vua mong ước khi về già, ngài có thể truyền ngôi báu lại cho thái tử.

Sau buổi lễ đặt tên cho thái tử, sức khoẻ của hoàng hậu Siri Maha Mada vô cùng giảm sút. Cuối cùng, vào ngày thứ bảy kể từ khi thái tử ra đời, hoàng hậu đã tạ thế. Dân chúng cả nước hết sức đau buồn, đặc biệt là vua Tịnh Phạn, người đã hết mực thương yêu hoàng hậu vì bà có trái tim yêu thương, tấm lòng nhân hậu hơn hẳn những phi tần mỹ nữ khác.

Sau khi hoàng hậu tạ thế, Vua Tịnh Phạn đã trao thái tử cho một cung phi khác tên là Maha Pasabodhikodhami chăm sóc. Cung phi Maha Pasabodhikodhami đã nuôi nấng thái tử Tất Đạt Đa như con đẻ của mình. Chính vì vậy thái tử chưa bao giờ phải suy tư về người mẹ ruột của mình.

Rất nhiều danh sư tài giỏi được mời đến hoàng cung để trông nom và dạy dỗ thái tử Tất Đạt Đa. Thái tử lớn lên trở thành một cậu bé hết sức thông minh và nhân từ. Bất cứ ai đã từng gặp chàng đều hết sức yêu mến chàng. Lên tám tuổi, chàng được gửi đến một trong số những trường học nổi tiếng nhất tên là Visavamit.

Dưới sự dìu dắt dạy bảo của rất nhiều thầy giáo về mọi lĩnh vực, thái tử vẫn có thể tiếp thu tốt các môn học mà không gặp bất cứ khó khăn gì. Trên thực tế chàng đã tỏ ra vượt trội trong các môn học. Điều này khiến đức vua và các thầy giáo rất đỗi ngạc nhiên. Dù là môn học nào, nghệ thuật diễn thuyết, quân sự, kinh tế hay bắn cung, chàng cũng đều tỏ ra xuất sắc.

Mặc dù với thân phận là một vị thái tử, lại rất mực thông minh nhưng lúc nào thái tử cũng tỏ lòng tôn kính đối với các thầy giáo và các bậc tiền bối vì chàng hiểu rằng nếu không có họ, chàng sẽ chẳng bao giờ biết được những bài học giá trị về cuộc sống. Chính vì vậy, thái tử luôn tỏ ra hoà nhã, ngoan ngoãn và lễ phép.

Thái tử Tất Đạt Đa không chỉ cư xử rất quân tử, lễ độ, chàng còn tốt bụng, hào phóng và nhân từ. Chàng cũng tỏ ra rất dũng cảm trong các môn thể thao giành cho phái nam. Xuất thân từ hoàng gia, chàng được giáo dục tốt về các môn đua ngựa, nghệ thuật cưỡi ngựa, đánh xe từ khi còn nhỏ.

Trong môn cưỡi ngựa đánh xe, thái tử có thể chiến thắng tay đánh xe cừ nhất kinh thành. Trong các cuộc thi cưỡi ngựa, lúc nào chàng cũng rất nhân ái đối với con tuấn mã đã giúp chàng giành thắng lợi. Chẳng hạn, chàng không bao giờ bắt chú ngựa phải chạy hết tốc lực để giành chiến thắng mà chỉ để nó chạy vừa phải ngang bằng với các đối thủ.

Thái tử Tất Đạt Đa không chỉ nhân từ với con tuấn mã riêng của mình mà chàng còn tốt bụng với mọi loài động vật khác. Mặc dù có thân phận cao quý và chưa gặp phải bất kỳ khó khăn trở ngại nào trong cuộc sống, nhưng chàng có thể hiểu được cảm xúc và suy nghĩ của loài vật. Tất cả đều căm ghét khổ đau và mong muốn có hạnh phúc. Nói cách khác, “loài vật cũng sống một cuộc sống giống như con người.”

Mặc dù thái tử chỉ mới 8 tuổi nhưng mọi việc chàng làm đều chứng tỏ một điều là chàng luôn tránh không làm những việc có thể giết hại hoặc gây tổn thương dù trực tiếp hay gián tiếp đến những loài vật khác, cho dù chúng lớn hay nhỏ. Đó là vì tự chàng hiểu rằng mọi loài sinh vật, chúng đều có cuộc sống riêng và đều phải tuân theo quy luật cuộc sống - “sinh, lão, bệnh, tử”. Một ngày nọ, thái tử nhìn thấy con trai của một vị quan dùng gậy đánh một con rắn, chàng liền ngăn lại vì cho rằng hành động ấy thật độc ác. “Cho dù đó là con người hay loài vật, chúng đều biết quý trọng cuộc sống”.

Một hôm, thái tử Tất Đạt Đa đến chơi đùa trong vườn với những đứa trẻ cùng trang lứa trong dòng tộc và con quan. Trong số những đứa trẻ này có thái tử Thevathat, em họ của thái tử Tất Đạt Đa. Tính cách hai thái tử rất khác nhau do kiếp sống trước đây của hai người khác nhau.

Thái tử Tất Đạt Đa rất giàu tình cảm và chàng chưa bao giờ khinh thường những kẻ nghèo khó hay bất hạnh. Chàng luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác. Trong khi đó, thái tử Thevathat lại là kẻ chuyên đi bắt nạt, gây rối. Chàng ta có tính hay đố kị, độc ác và thích giết hại động vật. Vào ngày dạo chơi trong khu vườn, cả hai đều có mặt. Thái tử Thevathat mang theo cung tên. Trong khi đang chơi đùa trong vườn, có một con thiên nga bay ngang qua, Thevathat liền giương cung bắn và đã trúng đích, khiến chú chim bị thương rơi ngay xuống đất. Lẽ đời người tốt luôn mong muốn mọi người được hạnh phúc trong khi kẻ ác lại luôn gây đau đớn, thương tổn cho người khác.

Thái tử Tất Đạt Đa lao ngay đến chỗ con thiên nga bị thương trước khi thái tử Thevathat kịp chạy đến. Chàng thận trọng bế con chim lên, từ từ rút mũi tên rồi sau đó hái lá cây dịt vào chỗ bị thương để cầm máu. Chàng âu yếm vuốt ve con chim. Thái tử Thevathat không thể chịu được hành động cũng như thái độ của thái tử Tất Đạt Đa đối với con thiên nga, liền đòi lại con chim vì chính chàng đã bắn trúng nó. Thái tử Tất Đạt Đa không chịu nên sự việc trở nên bế tắc.

Thái tử Tất Đạt Đa nhất quyết không trao trả chú chim cho Thevathat trong bất kỳ tình huống nào. Chàng lí luận rằng nếu một người bắn chết con chim thì con chim rõ ràng sẽ thuộc về người đó. Nhưng trong trường hợp này, con chim không chết, do vậy nó sẽ thuộc về người đã chữa lành vết thương cho nó. Và bởi vậy chàng quả quyết rằng con thiên nga sẽ thuộc về chàng. Trong khi đó, thái tử Thevathat cũng quả quyết là con thiên nga phải thuộc về người bắn được nó. Thái tử Tất Đạt Đa gợi ý đưa sự việc ra pháp đình, nhờ các bậc hiền nhân và nhà thông thái phân xử, và Thevathat đồng ý.

Sau khi xem xét sự việc của thái tử Tất Đạt Đa và thái tử Thevathat, mỗi hiền nhân và nhà thông thái đều có một ý kiến riêng. Một số vị ủng hộ thái tử Tất Đạt Đa, số khác lại ủng hộ thái tử Thevathat. Sự việc thật không dễ giải quyết và cần phải được cân nhắc thêm.

Cuối cùng, pháp đình đã có được phán xét cuối cùng dựa trên ý kiến của một nhà thông thái trẻ tuổi. Vị này đã nói trong cuộc xét xử rằng: “Con thiên nga thuộc về người đã hết lòng cứu mạng sống của nó chứ không thuộc về kẻ đã cố tâm huỷ diệt sự sống của nó”. Vậy là con thiên nga đã thuộc về thái tử Tất Đạt Đa, người đã kiên nhẫn và thận trọng chữa lành vết thương cho đến khi nó bình phục hoàn toàn. Khi thái tử thả nó về với cuộc sống hoang dã, con thiên nga lại được tự do. Kể từ ngày đó, trong lòng thái tử Thevathat luôn nung nấu ý định trả thù thái tử Tất Đạt Đa.

Thời kỳ đó ở Ấn Độ, các sản phẩm phục vụ nhu cầu con người hầu hết đều có nguồn gốc từ đồng ruộng. Bởi vậy, người ta coi nhiệm vụ quan trọng nhất của một người đối với bản thân anh ta nói riêng và đối với đất nước nói chung chính là làm việc trên đồng ruộng cho đến ngày thu hoạch lúa gạo, sản phẩm thiết yếu nhất đối với con người. Vì lí do này mà lễ hội trồng lúa truyền thống ra đời và phát triển. Trong lễ hội này, nhà vua cũng phải tham gia và đích thân xuống ruộng cấy lúa làm mẫu cho thần dân của mình. Đức vua không được tỏ ra khó chịu hay xấu hổ mà phải coi đó chính là vì niềm hạnh phúc của thần dân, vì sự thịnh vượng của đất nước.

Tại thành Ka Tỳ La Vệ, tiết trời lúc đó đương mùa hè, báo hiệu bắt đầu một mùa vụ trồng lúa. Đức vua cùng với các cận thần và con cháu trong hoàng cung đang tham dự lễ hội trồng lúa của Hoàng gia. Có rất nhiều người đến xem lễ hội. Cũng có rất nhiều trò chơi giải trí. Hôm đó, nhà vua cho phép thái tử Tất Đạt Đa đi theo.

Vua Tịnh Phạn chủ trì lễ hội và bắt đầu xuống cày ruộng, theo sau có các quan đại thần và dân thường cùng bắt tay vào cày xới cho đến khi thửa ruộng sẵn sàng để gieo hạt. Chiếc cày của nhà vua được dát vàng còn của các vị quan thì được dát bạc.
Đến trưa, những người tham dự lễ hội đều vui vẻ quây quần ăn uống. Tất cả đều quên bẵng thái tử Tất Đạt Đa lúc đó đang lặng lẽ tiến về phía một cây cổ thụ râm mát. Chàng ngồi xuống, trầm tư suy nghĩ về cuộc sống của đức vua cha, của các quan đại thần và của dân chúng, những người lúc này đang tụ tập ăn trưa trong niềm hạnh phúc hân hoan. Đó thật sự là những khoảnh khắc vui sướng đối với mọi người.

Nhìn lũ bò, thái tử Tất Đạt Đa nghĩ rằng dù gì thì nó cũng không thể thấy hạnh phúc được. Chúng phải nai lưng kéo cày dọc theo những lớp đất nhày để rồi sau đó thở hồng hộc qua miệng và lỗ mũi. Cuộc sống của chúng không hề vui vẻ ngay cả khi con người đang rất sung sướng tụ tập ăn uống trong ngày hội. Chúng không những phải làm việc cực nhọc mà còn bị quất roi và chửi mắng mỗi khi không làm hài lòng chủ nhân. Thái tử Tất Đạt Đa rất buồn về điều này.

Ngoài ra, thái tử cũng để ý đến cuộc sống của các loài động vật khác, kể cả loài côn trùng sống ở gần đó. Thái tử nhìn thấy một con thằn lằn nhô đầu lên khỏi ổ gần chỗ chàng ngồi và thè cái lưỡi chết người tóm lấy một con kiến nhỏ đang tha mồi. Bỗng nhiên, một con rắn từ đâu trườn tới cắn chết con thằn lằn bằng nọc độc chết người của nó rồi nuốt chửng. Trong khi thái tử vẫn chưa hết ngạc nhiên về những gì xảy ra trước mắt thì bỗng một con đại bàng từ trên cao sà xuống và quắp lấy con rắn bằng đôi móng sắc nhọn rồi bay đi. Chàng thấy tiếc cho cuộc sống của các loài vật và nhận thấy cuộc sống thật mong manh .

Từ việc phân tích những suy nghĩ của mình, thái tử Tất Đạt Đa tự nhủ “Cuộc đời này, mọi việc có vẻ tốt đẹp thật đấy, nhưng phải chăng vẫn có những điều xấu xa ẩn sâu dưới lớp bề ngoài kia?”. Cuối cùng, thái tử đi đến kết luận rằng mọi sinh vật trên trái đất này lúc nào cũng phải đối mặt với khổ đau. Ngay cả thái tử, lẽ ra đang ở cái tuổi được hồn nhiên vui chơi thì tâm trí cậu lại bị chìm đắm trong những suy nghĩ sâu xa để rồi cảm thấy vô vọng vì cậu không tìm thấy câu trả lời.

Khi lễ hội kết thúc, những thị vệ có phận sự trông nom thái tử Tất Đạt Đa phải đi tìm chàng, cuối cùng họ tìm thấy chàng đang ngồi như một pho tượng đá dưới bóng cây lớn (*). Họ phải lay chàng dậy rồi mời chàng hồi cung cùng với đức vua và các vị quan đại thần. Trên đường trở về cung, thái tử Tất Đạt Đa cảm thấy nuối tiếc cho cuộc sống của các loài vật. (*) Thông thường, bóng cây luôn ở hướng đối diện với tia nắng mặt trời, nhưng nơi mà thái tử Tất Đạt Đa đang ngồi thì bóng cây đó không hề dịch chuyển, che mát cho thái tử trong suốt thời gian chàng ngồi. Đức vua vô cùng ngạc nhiên về điều này, và lần thứ hai ngài quỳ rạp dưới chân đứa con trai mình đảnh lễ .

Nhà vua rất lo ngại về cách cư xử cũng như suy nghĩ của thái tử về giới tu hành. Ngài sợ rằng thái tử sẽ rời xa mình, rời xa vương quốc và ngai vàng, những thứ mà ngài chủ định sẽ truyền lại cho chàng. Nhà vua quyết tâm làm mọi việc hòng thay đổi cách suy nghĩ của chàng, để mọi thú vui giải trí trong cung điện có thể trở nên quen thuộc với chàng. Nhà vua ra lệnh xây thêm ba cung điện nữa dành cho thái tử, vậy là giờ đây thái tử có tất cả bốn cung điện. Nhưng điều này cũng không thể ngăn thái tử thôi nghĩ đến việc hi sinh thân mình để cứu giúp loài người thoát khỏi khổ đau và tìm thấy niềm hạnh phúc thật sự.

Cung điện thứ nhất gọi là cung điện mùa đông, được xây bằng những loại gỗ quý, nhiệt độ trong cung lúc nào cũng ấm áp. Mặt sàn được lát bằng gỗ đàn hương. Cung điện này giành để thái tử đến ngự vào mùa đông. Cung điện thứ hai được xây bằng đá cẩm thạch được mài láng bóng và mát mẻ quanh năm. Cung điện này được xây để Thái tử đến ngự vào mùa hè. Cung điện thứ ba được xây bằng một loại gạch tốt, mái được làm bằng loại vật liệu có thể chống lại những cơn bão lớn. Cung điện này dành cho thái tử cùng hoàng tộc sống trong mùa mưa. Bao quanh các cung điện vua Tịnh Phạn yêu cầu các quan cận thần xây một hoa viên để thư dãn có hồ sen với đủ màu đủ loại nở hoa quanh năm. Đây cũng là nơi dành cho thái tử cưỡi ngựa. Tuy nhiên, những cung điện sa hoa này vẫn không thể nào chiếm được trái tim của thái tử Tất Đạt Đa.

Thời gian thấm thoát trôi đi, thái tử đã trưởng thành, vua Tịnh Phạn nhận ra rằng dù ngài có cung phụng cho thái tử nhiều thế nào chăng nữa thì chàng cũng không mảy may quan tâm. Thái tử Tất Đạt Đa nói: “Những thứ được dâng lên đó đều không phải là niềm hạnh phúc thật sự”.

Nhà vua lại triệu tập bá quan văn võ, các nhà thông thái và hiền nhân tìm cách thay đổi ý định gia nhập giới tu hành của thái tử Tất Đạt Đa theo như lời tiên đoán của nhà thông thái nọ. Các vị này đều tâu với đức vua rằng cách duy nhất để thái tử thôi ngay ý nghĩ muốn xa rời thế giới trần tục là tìm cho thái tử một thiếu nữ xinh đẹp nhất kinh thành rồi cưới làm vợ. Nếu việc này thành công ắt thái tử sẽ bớt thời gian mơ tưởng đến những việc khác. Đó sẽ là lúc thích hợp để truyền ngôi cho thái tử. Nhà vua đồng ý với kế hoạch đó và tin rằng chỉ còn một cách duy nhất đó thôi.

Hoàng thượng ra lệnh mở một dạ tiệc lớn trong hoàng cung và mời những thiếu nữ xinh đẹp nhất kinh thành đến tham dự. Các thiếu nữ sẽ bước đến trước mặt thái tử và nhận lấy một món quà từ tay chàng tùy thuộc vào vẻ đẹp của họ. Các quan cũng được bố trí ẩn nấp ở gần đó để tìm hiểu xem thái tử tỏ vẻ ưa thích ai nhất. Thế nhưng nhà vua và các vị quan đã không thể lay chuyển được suy nghĩ của thái tử theo sự sắp xếp này và vì vậy mọi kế hoạch đành kết thúc.

Thành Ka Tỳ La Vệ trở nên thật náo nhiệt vì cái tin thái tử kén vợ đẹp nhanh chóng bay xa. Các thiếu nữ từ mọi nơi trong khắp kinh thành sẽ diễu qua trước mặt thái tử, từng người một, sau đó mỗi nàng sẽ được thái tử trao cho một món quà. Đó gần như là một trong số những lễ hội tưng bừng nhất. Trong suy nghĩ của các vị quan thì các thiếu nữ hẳn sẽ cảm thấy rất sung sướng và vinh hạnh khi đón nhận món quà từ chính thái tử. Quả đúng vậy, và các nàng còn thấy rất hồi hộp khi được giáp mặt với chàng thái tử tuấn tú nữa. Các nàng đều tỏ ra duyên dáng khi đứng trước thái tử, rồi trở lại chỗ ngồi của mình, lo lắng, phấn chấn, và hạnh phúc khi nghĩ rằng mình sẽ là người được chọn.

Thật ra, việc các thiếu nữ ai nấy đều cảm thấy hồi hộp lo lắng khi đứng trước thái tử là điều hết sức tự nhiên. Bởi vì chàng vượt trội hơn hẳn những chàng trai đồng lứa về mọi phương diện: vẻ bề ngoài tuấn tú, tấm lòng nhân hậu, sự thông tuệ cùng với vẻ quý phái tao nhã. Mặc dù thái tử tận tay trao quà cho các thiếu nữ nhưng chàng hoàn toàn không để ý đến sắc đẹp của họ, tâm trí chàng còn mải mê nghĩ đến những chuyện khác quan trọng hơn. Thậm chí một số nàng còn phàn nàn rằng chàng chẳng khác nào một pho tượng. Đúng là chàng chẳng hề nghĩ ngợi gì về hôn lễ mà chỉ nghĩ về những khổ đau của con người và những sinh linh khác.

Biết bao thiếu nữ đã cáo lui mà vẫn chưa có gì xảy ra. Thái tử vẫn ngồi bất động, rõ ràng là vẻ kiều diễm của các thiếu nữ không hề thu hút được chàng. Khi mọi việc tưởng như đã kết thúc thì bỗng nhiên xuất hiện một thiếu nữ. Nàng đến muộn, vội vàng đến trình diện trước thái tử. Đây chính là một tình huống mà hai người đã trải qua trong kiếp trước.

Các quan đại thần để ý thấy rằng khi thiếu nữ này tiến đến trước thái tử, nhìn thẳng vào mắt chàng với nụ cười trên môi và hỏi rằng liệu có còn món quà nào dành cho nàng, trông thái tử có phần vui vẻ hơn hẳn. Thái tử nói rằng tất cả các phần quà đều đã được trao hết, nhưng vẫn còn một món quà khác dành cho nàng. Nói rồi chàng cởi luôn chuỗi hạt của mình rồi đeo vào cổ tay công chúa Gia Du Đà La.

Các quan đại thần đều tỏ ra rất vui mừng. Sau khi tìm hiểu, họ biết rằng thiếu nữ đó chính là công chúa Gia Du Đà La, ái nữ của đức vua Thiện Giác (Soupaputta) - đức vua trị vì thành Thiên Tý (Thevathaha) vốn đã có mối quan hệ hôn nhân từ trước với thành Ka Tỳ La Vệ. Họ vội đến tâu với vua Tịnh Phạn. Ngày hôm sau, nhà vua liền phái một đoàn người gồm những những vị quan đại thần đến thăm viếng đức vua Thiện Giác và xin dạm hỏi công chúa cho thái tử Tất Đạt Đa.

Dòng họ Thích Ca được coi là hùng mạnh nhất ở thung lũng Himmalayan. Theo tục lệ, trước lễ thành hôn của mình, chàng trai phải chứng tỏ tính can trường dũng mãnh của mình trong hàng loạt các cuộc so tài: đua ngựa, bắn cung, đấu kiếm. Thái tử không phải là trường hợp ngoại lệ, chàng cũng sẽ phải đấu sức với tất cả các thanh niên trai tráng trong kinh thành để truyền thống đó có thể được duy trì cho các thế hệ sau này.

Vào ngày ấn định, các chàng trai võ nghệ cao cường, giỏi cung tên, đua ngựa và đấu kiếm đều có mặt để khoe tài trước mặt các sư phụ và đám đông. Thái tử Tất Đạt Đa đến tham dự cùng con tuấn mã Kiền Trắc. Tại cuộc thi, chàng đã chứng minh được tài đua ngựa, bắn cung khi thắng tất cả các đối thủ trong kinh thành. Vào thời điểm đó, Thái tử Thevathat được mệnh danh là tay xạ thủ cừ nhất. Hai thái tử là anh em họ với nhau.

Trong cuộc thi đấu kiếm, thái tử Tất Đạt Đa đã dùng kiếm chặt đổ một cây lớn trong tích tắc. Nhát chém đẹp, nhanh và tinh vi đến mức sau khi chém thân cây vẫn nguyên đó như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Khi ngọn gió nhẹ lướt qua, thân cây đổ rạp xuống trước sự ngạc nhiên của đám đông. Vào thời điểm đó, thái tử Nandha được coi là kiếm sĩ giỏi nhất vương quốc và tất cả đều tin rằng không ai có thể là đối thủ của chàng. Nhưng cuối cùng, thái tử Tất Đạt Đa đã đánh bại được thái tử Nandha. Điều này chứng tỏ thái tử Tất Đạt Đa là kiếm sỹ cừ nhất. Thái tử Tất Đạt Đa và thái tử Nandha là anh em cùng cha khác mẹ.

Trong cuộc thi đua ngựa, thái tử Tất Đạt Đa cưỡi con ngựa bạch Kiền Trắc của mình. Thái tử phi ngựa nhanh và xa hơn bất kỳ ai. Điều này đã gây ra sự bất bình trong một số tay đua. Họ cho rằng thái tử thắng cuộc là vì chàng được cưỡi con tuấn mã tốt và chạy nhanh nhất vương quốc, rằng họ cũng có thể thắng cuộc nếu được cưỡi con tuấn mã đó. Có ý kiến cho rằng vậy thì thái tử và các tay kị kỹ khác hãy cùng cưỡi một con ngựa ô chưa được thuần hóa và chưa có ai cưỡi bao giờ để xem ai có thể ngồi trên lưng ngựa lâu nhất. Mọi người cùng nhất trí vậy. Chỉ người nào có tấm lòng nhân ái với loài vật mới có thể làm được điều đó.

Từng người một cố hết sức nhảy lên lưng ngựa. Nhưng không ai trong số họ gặp may mắn và lần lượt đều bị hất ngay xuống đất. Đến lượt thái tử Orasun. Vào thời điểm đó, thái tử Orasun được coi là kị sỹ cừ nhất vương quốc. Chàng nhẹ nhàng nhảy lên lưng ngựa, quất roi rồi cưỡi ngựa xung quanh khu vực đua tài. Mọi người ai nấy đều ngạc nhiên, nhưng họ biết sớm muộn chàng cũng sẽ phải thất bại giống như những kị sỹ trước.

Không lâu sau, bỗng nhiên con ngựa hoang hất mạnh đầu, lồng lên rồi hất thái tử Orsasun xuống đất. Đã thế trong khi thái tử vẫn còn đang nằm trên mặt đất, con ngựa cố sức dùng chân dày xéo lên thái tử, may mà đám cận vệ đã kịp lao vào chặn lại. Đó chỉ là vì thái tử đã bất cẩn khi đặt tính mạng mình trên một con ngựa nguy hiểm nhường ấy . Lẽ ra nó đã để cho chàng cưỡi trên lưng nó , nhưng vì chàng đã quất roi vào nó rồi diễu đi trước mặt đám đông nên nó đã hất chàng xuống. Có lẽ với con ngựa hung hãn nhường này chỉ những người có trái tim nhân hậu mới thuần phục được.

Cũng giống như những người trước đó, thái tử Tất Đạt Đa sẽ phải cố sức để có thể cưỡi được chú ngựa hoang. Giờ đã đến lượt chàng. Khán giả đều tin rằng thái tử thế nào cũng bị con ngựa giết chết và cầu xin chàng đừng bước vào cuộc đấu. Ngay cả thái tử Orsasun, người được mệnh danh là kị sỹ giỏi nhất kinh thành cũng suýt nữa thì mất mạng. Nhưng thái tử vẫn yêu cầu thả ngựa ra. Chậm rãi và dứt khoát, thái tử bước đến con ngựa, tay phải đặt lên bờm ngựa còn tay trái dịu dàng vuốt ve vai nó. Vừa vuốt ve, chàng vừa thì thầm điều gì đó vào tai con ngựa.

Khán giả có mặt tại cuộc đua đều rất ngạc nhiên chứng kiến cảnh con ngựa đứng yên để thái tử leo lên và cưỡi xung quanh bãi đấu mà không cần dùng chút vũ lực nào. Lần đầu tiên, đám đông được chứng kiến một điều lạ lùng như thế. Có thể đó là vì chưa từng có ai dịu dàng với nó như vậy. Người xưa có câu “Cái thiện thắng cái ác, tình thương thắng bạo tàn”, những người có tâm hồn trong sáng, chân thành ắt sẽ chiến thắng kẻ có đầu óc hiểm độc.

Mọi người đều công nhận thái tử Tất Đạt Đa là tay xạ thủ cừ nhất, kị sỹ giỏi nhất và kiếm sỹ tài ba nhất vương quốc. Chàng là người thích hợp nhất sánh đôi với công chúa Gia Du Đà La. Vua Tịnh Phạn vô cùng hạnh phúc vì lúc đầu, ngài cứ nghĩ thái tử chỉ mang bản tính yếu đuối của một nhà tu hành. Về phần vua Thiện Giác, cha của công chúa Gia Du Đà La, ngài vui mừng khôn xiết vì đã kén được một chàng rể vừa thông minh vừa tài giỏi về mọi mặt là thái tử Tất Đạt Đa. Bởi vậy, ngài đã không ngần ngại gả công chúa Gia Du Đà La cho chàng. Một lần nữa, thái tử Tất Đạt Đa đã chứng tỏ khả năng diễn thuyết và nghệ thuật chiến đấu của mình.

Cuối cùng, thái tử Tất Đạt Đa đã kết hôn cùng công chúa Gia Du Đà La. Thái tử lên ngôi và trị vì vương quốc ở tuổi 16, tức là giữa năm Sửu. Sau lễ thành hôn, đôi vợ chồng chuyển đến sống ở cung điện xây riêng cho thái tử và vị hôn thê với bao niềm hạnh phúc. Vua Tịnh Phạn vui mừng khôn xiết và tin rằng thái tử của ngài sẽ không từ bỏ ngai vàng để xuất gia tu hành như lời tiên đoán. Tuy nhiên, niềm hạnh phúc mà đức vua mang đến cho thái tử Tất Đạt Đa chỉ là nhất thời và không kéo dài lâu.

Để ngăn ngừa ý nghĩ xuất gia đi tu hay kiếm tìm Đạo giải thoát (Mokkha Dhamma) của thái tử Tất Đạt Đa, Vua Tịnh Phạn đã ra lệnh cho tất cả mọi người trong cung không được đề cập đến bất cứ điều gì bất hạnh, đau buồn liên quan đến những chuyện vô thường như Lão, Bệnh, Tử. Ngài còn ra lệnh cho những người hầu cận của thái tử phải luôn tỏ ra vui vẻ. Ngay cả khi nhảy múa ca hát, tất cả phải luôn vui vẻ và che dấu mọi sự mệt mỏi. Nhưng chưa một ngày nào kể từ khi biết nhận thức, thái tử Tất Đạt Đa có được niềm hạnh phúc thật sự. Những gì được cung phụng, dâng tặng cho chàng chưa bao giờ chàng coi là niềm hạnh phúc thật sự.

Ngoài ra, vua Tịnh Phạn còn ra lệnh xây những bức tường thành kiên cố bao quanh hoàng cung và vườn Thượng Uyển. Không ai được phép thăm viếng thái tử ngoại trừ những chàng trai hay thiếu nữ trẻ đã được tuyển chọn vì họ luôn là những người vô tư, tràn đầy sức sống. Nếu có ai bị ốm, họ sẽ phải rời khỏi cung điện và chỉ trở lại sau khi đã hoàn toàn bình phục. Vua Tịnh Phạn cũng ra lệnh cho thị vệ phải đứng canh chừng ở những cổng lớn không cho thái tử bước chân ra khỏi hoàng cung.

Vua Tịnh Phạn ra lệnh cho các quan đại thần trong cung liên tục tổ chức tiệc tùng, đàn ca nhảy múa dành riêng cho thái tử Tất Đạt Đa. Nhưng cho dù những vũ nhạc công hay những anh hề dù cố gắng đến đâu chăng nữa, họ cũng không thể khơi lên được trong thái tử niềm hạnh phúc thật sự và nỗi buồn vẫn cứ chồng chất trong trái tim chàng. Thái tử không có được hạnh phúc như đức vua mong đợi. Thái tử mong muốn được nhìn ngắm thế giới bên ngoài. Chàng ước ao được gặp gỡ dân chúng để xem cuộc sống của họ hạnh phúc đến đâu. Chàng ước ao được biết sự thật và đã nhiều lần xin phép vua cha được du ngoạn ra ngoài thành.

Cuối cùng, vua Tịnh Phạn đành chấp thuận. Ngài không thể từ chối lời thỉnh cầu của thái tử mãi được. Vua Tịnh Phạn ra lệnh cho quân lính loan tin về chuyến du ngoạn của thái tử và đặc biệt lệnh cho dân chúng phải trang hoàng lại nhà cửa và nghỉ làm việc vào ngày đó. Những kẻ ốm đau, bệnh tật, già yếu không được phép ra đường, phải tránh xa những nơi mà thái tử đi qua.

Khi mọi việc đã sẵn sàng, chiếc xe ngựa được trang hoàng lộng lẫy đã chờ sẵn để đưa rước thái tử ra ngoài thành, nơi dân chúng đang háo hức đón chờ chuyến viếng thăm của chàng. Thái tử đi qua các con phố, đâu đâu chàng cũng thấy dân chúng tươi vui hớn hở, hoa giăng đầy đường.

Bỗng nhiên, một lão già lưng còng chống gậy bước tới. Trông lão móm mém, tóc bạc, đôi mắt nhoèn nhoẹt nước, khuôn mặt khắc khổ đầy nếp nhăn, trên mình chỉ còn trơ lại một miếng vải rách. Không ai kịp ngăn lão lại. Lão đang xin ăn, trông có vẻ như đói lắm rồi, nếu không được của bố trí thì lão chết mất. Thái tử thấy động lòng trước sự xuất hiện của lão. Đây là hình hài cải trang đầu tiên của bốn vị Đê va được phái xuống trần gian. Vị này cải trang thành một lão già. Ba hình hài khác của ba vị Đê va còn lại là một người ốm yếu, một xác chết và một vị sư tiểu.

Tất cả những ai đang đón mừng thái tử đều cố ngăn lão già lại để chàng không nhìn thấy, nhưng đều vô ích vì thái tử đã trông thấy lão. Sự xuất hiện của lão đã gây một cú sốc lớn cho thái tử, hé mở cho thái tử một sự thật rằng Sankhara (Hành - sự hình thành cơ thể con người) của con người là vô thường, thân xác rồi cũng có lúc phải chịu già nua.

Sau khi gặp lão già, tâm trạng thái tử rất xáo trộn. Trông lão chẳng khác gì loài vật. Chàng hỏi tên hầu cận của mình là Xa Nặc ( Sana ) về lão già: Loài vật gì vậy? Nếu là người sao lại còng lưng, không đứng thẳng giống những người khác? Sao tóc lại bạc mà không đen? Chuyện gì xảy ra với đôi mắt của lão? Răng lão đâu rồi? Ai về sau cũng như thế này cả sao? “Hãy mau trả lời, ta vừa nhìn thấy cái gì vậy? Chuyện gì đã xảy ra vậy Xa Nặc?” Xa Nặc thấy không thể giấu được sự thật đành kể hết mọi chuyện cho thái tử.

Xa Nặc tâu với thái tử rằng hình hài mà thái tử vừa nhìn thấy chính là con người. Đó là một cụ già. Khi mới sinh ra, lưng lão không bị còng mà trông lão cũng giống như những người bình thường khác. Thời trẻ, lão cũng khỏe mạnh, tóc đen, mắt sáng, trí tuệ minh mẫn. Nhưng giờ đây, vì đã sống lâu nên lão trở nên già nua thế này. Đây là một quy luật tự nhiên, không ai tránh được cả. Thái tử nghi ngờ hỏi lại Xa Nặc rằng liệu hắn có chắc chắn rằng ai sống lâu cũng trở thành như vậy không và tại sao từ trước đến nay không có ai nói với chàng về điều này. Thái tử trong lòng thấy rất bối rối và xáo trộn. “Hành - Sankhara có nguồn gốc tạo thành riêng của nó và sẽ tồn tại theo quy luật tự nhiên”.

Xa Nặc khẳng định lại với thái tử rằng ai cũng sẽ trở thành như vậy khi đến tuổi già yếu như ông già kia. Thái tử hỏi lại “Tất cả mọi người ư? Cả ta, cha mẹ ta, anh em ta và hoàng gia ta ư? Tất cả đều trở thành như vậy ư?” Xa Nặc tâu “Thưa vâng, tất cả, không loại trừ một ai”. Một sự thật hiển nhiên – có sinh ắt có lão, có bệnh và có tử – không ai ngăn được quy luật đó.

Sau khi nghe được sự thật từ Xa Nặc, thái tử Tất Đạt Đa lập tức hạ lệnh cho đoàn tùy tùng xa giá hồi cung. Chàng không còn tâm trạng nào để gặp gỡ dân chúng nữa sau khi đã tận mắt thấy một hình hài kinh sợ và gây xáo trộn nhất mà chàng từng thấy. Thái tử nhận ra rằng sẽ có ngày chàng mất hết sinh lực, không còn hạnh phúc và sẽ già nua giống như ông lão kia. Chàng sẽ không thể giúp ai thoát khỏi quy luật này cho dù họ là ai đi nữa: kẻ giàu hay người nghèo, vua chúa hay thường dân. Tất cả cùng chung một số phận tùy theo nghiệp chướng (Karma) của mình, kể cả thái tử. Đúng như một câu tục ngữ của Ấn Độ “Kammunna Wattatiloko” nghĩa là “Người trần sống theo nghiệp chướng riêng của mình.”

Buổi tối hôm đó, từ ngoài thành trở về, thái tử không tài nào chợp mắt được. Chàng không nguôi nghĩ về quá trình lão hóa mà chàng và hoàng hậu sau này sẽ phải đối mặt, giống như lão già mà chàng gặp sáng nay. Chàng không nguôi nghĩ “Liệu có ai trên thế gian này biết cách tránh được tuổi già không nhỉ?” Nếu chàng dâng hiến cả cuộc đời cùng nguồn sinh lực của mình để tìm ra được cách nào thoát khỏi tuổi già, chẳng phải sẽ có ích cho bản thân chàng và mọi người trên thế gian này ư? Thái tử Tất Đạt Đa muốn chạy trốn Dukkha (đau khổ). Chàng mong muốn điều này cho cả những người khác nữa. Nhưng vì không tìm ra được phương cách nào nên trong lòng chàng lúc nào cũng lo âu buồn bã.

Mọi việc đều được bẩm báo chi tiết lên vua Tịnh Phạn. Nhà vua hết sức thất vọng và đã lệnh cho thị vệ phải làm bất cứ điều gì có thể để mua vui cho thái tử. Tuy nhiên, mọi cố gắng của họ đều thất bại. Thái tử Tất Đạt Đa lại tiếp tục xin phép nhà vua đi du ngoạn một mình ngoài kinh thành để chàng có thể chứng kiến cuộc sống thường ngày của dân chúng để tìm ra một vài chân tướng của sự thật. Thái tử đã quyết tâm rời khỏi cung điện cùng với Xa Nặc, người hầu cận của chàng.

Vua Tịnh Phạn không hề muốn cho chàng ra khỏi thành vì sợ rằng chàng sẽ tận mắt chứng kiến cuộc sống của dân chúng. Ngài càng lo sợ hơn nếu để chàng nhìn thấy những nông dân nghèo, những người không xuất thân từ hoàng cung hay gia đình giàu có. Những người này phải vật lộn với cuộc mưu sinh. Ngài cũng sợ rằng thái tử sẽ nhìn thấy những nỗi đau vô thường của con người – lão, bệnh, tử. Điều này gợi cho nhà vua nhớ đến lời tiên tri ngày trước, điều khiến ngài lo sợ sẽ trở thành hiện thực. Vua Tịnh Phạn không nhận ra rằng Ngài càng cố gắng can ngăn thái tử bao nhiêu càng khiến chàng đau khổ bấy nhiêu. Nhưng vì tình yêu thương dành cho chàng nên ngài đã quyết định cho phép chàng ra ngoài thành. Cuối cùng, thái tử đã có cơ hội rời khỏi cung điện như chàng ao ước.

Thay vì du ngoạn bằng xe ngựa, lần này thái tử Tất Đạt Đa đi bộ ra khỏi thành cùng với hầu cận Xa Nặc và hai thị vệ khác. Thái tử ăn mặc giả làm một công tử con nhà giàu, đám người còn lại mặc trang phục bình thường để không ai có thể nhận ra họ. Điều này giúp chàng có thể được tận mắt thấy những gì chàng mong muốn mà không bị kẻ khác dòm ngó. Trong chuyến đi, chàng đã gặp một người thợ rèn. Anh ta đang chế tạo ra đủ loại dụng cụ. Chàng rất quan tâm đến người này.

Dọc theo đường phố, nhà cửa và các tiệm kim hoàn nằm san sát. Thái tử thấy có rất nhiều đồ trang sức với đủ loại hình dạng và kích cỡ, thấy mọi người tấp nập mua bán. Chàng cũng nhìn thấy những người thợ đang nhuộm vải đầy phố. Một vài cửa hiệu bán đủ loại bánh, khách đến phải xếp hàng để chờ mua những mẻ bánh mới ra lò. Thái tử cảm thấy vô cùng hạnh phúc được thấy cảnh buôn bán nhộn nhịp của người dân. Bởi vậy chàng không hề tỏ ra mệt mỏi. Tuy nhiên, niềm hạnh phúc mà chàng đang có được vẫn không phải là niềm hạnh phúc mà chàng đang tìm kiếm.

Cuối cùng, niềm hạnh phúc khi được chứng kiến cuộc sống hàng ngày của dân chúng cũng qua đi. Trong khi đang dạo bước dọc theo các con phố, chàng nghe thấy tiếng khóc kêu cứu. Ở không xa nơi chàng đứng, chàng nhìn thấy một người đang bò lết trên đường lộ vẻ đau đớn, trên người lấm chấm những nốt đỏ. Mỗi khi muốn gượng dậy, đôi mắt cậu ta lại nhắm nghiền và ngã vật xuống. Cậu ta đang bị bệnh. Đây là chuyện bình thường trong cuộc sống con người, không ai có thể tránh được.

Do bản tính nhân từ, chàng chạy ngay đến chỗ cậu thanh niên ốm yếu và đỡ cậu dậy. Chàng nhẹ nhàng nâng đầu cậu ta đặt lên đầu gối mình để cậu cảm thấy dễ chịu hơn. Khi cậu thanh niên có vẻ đã bớt mệt, thái tử mới hỏi “Chuyện gì xảy ra vậy và tại sao cậu lại không đứng dậy được?” Cậu ta cố gắng trả lời thái tử nhưng không thốt nên được lời nào vì quá yếu. Khi Xa Nặc và đám tuỳ tùng đến nơi, thái tử bèn quay sang hỏi Xa Nặc “Xa Nặc, hãy nói cho ta biết chuyện gì xảy ra với cậu ta vậy? Tại sao cậu ta chỉ nằm im một chỗ? Tại sao tiếng thở nghe khiếp vậy? Tại sao cậu ta không trả lời câu hỏi của ta?” Sinh, lão bệnh, tử đều là những yếu tố bình thường của mọi Sankhara (sự hình thành cơ thể con người), dù đó là con người hay loài vật đều phải chấp nhận quy luật này.

Xa Nặc hoảng sợ khi thấy thái tử Tất Đạt Đa chạm vào cậu thanh niên bệnh tật đó. Chàng ta ngăn không để thái tử chạm vào người bệnh rồi sau đó trả lời “Cậu ta bị bệnh truyền nhiễm. Máu có độc khiến cậu ấy thở rất nặng nhọc, rồi cậu ấy sẽ ngạt thở và chết'. Thái tử lại hỏi Xa Nặc “Thế mọi người, kể cả ta đều sẽ bị đau yếu giống cậu ta à?” Xa Nặc trả lời “Thái tử cũng có thể bị bệnh nếu cứ chạm vào người cậu ấy. Xin cứ để cậu ấy nằm đó và đừng động chạm đến người cậu ta nữa, nếu không căn bệnh sẽ truyền sang người thái tử” . Nhưng vì lòng nhân từ với mọi sinh linh trên thế gian này, thái tử một mực đòi giúp đỡ cậu thanh niên. Chàng nhận ra rằng không ai có thể thoát được quy luật của tạo hoá. Mọi sự sống đều có điểm dừng của riêng nó.

Thái tử hỏi Xa Nặc “Còn nhiều kiểu bệnh khác nữa không?” Xa Nặc trả lời “Có vô vàn kiểu bệnh khác nhau, một số rất nguy hiểm và gây đau đớn cho con người” . Thái tử lại hỏi “Thế có ai chữa được những căn bệnh nguy hiểm và sự ốm yếu mà con người đang phải đối diện không? Có cách nào chế ngự bệnh tật không? Điều này thật kì lạ!' Đây chính là cuộc sống và chuyện đó là bình thường. Không ai biết được khi nào thì mình sẽ bị bệnh. Bất cứ ai, vào bất cứ thời điểm nào đều có thể bị bệnh. Thái tử hỏi thêm “Nó sẽ xảy ra với tất cả mọi người không kể địa vị xã hội như vua chúa, người giàu hay kẻ nghèo ư? Nó sẽ xảy ra với ta chứ?” Xa Nặc trả lời “Vâng, sự thật là thế, rồi một ngày thái tử cũng sẽ đau yếu rồi qua đời” Đúng như một câu tục ngữ của Pali “Jara Dhamomahi Jarang Anitito” nghĩa là “đau yếu là chuyện thường tình của đời người, không ai có thể tránh được.”

Thái tử Tất Đạt Đa nói “Nếu đúng như vậy thì loài người trên thế gian này lúc nào cũng phải sống trong lo sợ! Sẽ ra sao nếu đêm nay đi ngủ có thể sẽ không tỉnh giấc vào sáng mai nữa! Sẽ ra sao nếu ta cũng bị bệnh giống như người mà chúng ta vừa gặp. Những điều đó là không đúng phải không Xa Nặc?” Xa Nặc đáp “Thưa không, đó đúng là sự thật. Chẳng có ai trên đời này biết được khi nào thì mình bị bệnh và bị bệnh gì trước khi chết” . Xa Nặc nhìn về phía trước rồi nói với thái tử “ Xin thái tử hãy mở mắt nhìn cái chết theo một cách khác – thái tử sẽ thấy rằng cái chết là một thực tế của cuộc sống. Không ai có thể tránh được. Vấn đề chỉ là chết như thế nào và khi nào chết thôi.”

Thái tử Tất Đạt Đa ngoảnh đầu về phía khác theo lời khuyên của Xa Nặc. Chàng nhìn thấy một đám đông đi dọc theo phố, khóc lóc. Đi đầu có bốn người đang khiêng một người nằm trên cáng. Miệng người đó há hốc, trông rất đáng sợ. Đám rước xuất hiện ầm ĩ và có vẻ người nằm trên cáng không thoải mái cho lắm. Mặc dù được nhấc bổng lên, khiêng lắc lư trên một chiếc cáng nhưng người đó vẫn không nói một lời nào. Khi đám người đi qua thái tử, chàng rất bối rối không biết tại sao những người đi sau cáng lại khóc và tại sao cái người nằm trên cáng lại không bảo những người khiêng hãy cẩn trọng hơn. Giống như một câu tục ngữ tiếng Pali: “ Moranang Dukkhang” nghĩa là “Cái chết là điều tự nhiên mà con người sẽ phải giáp mặt, vấn đề chỉ ở chỗ khi nào mà thôi?”

Khi đám rước đi qua thái tử được một quãng ngắn, những người khiêng đặt cái cáng trên một đống gỗ và bắt đầu châm lửa. Nhưng người nằm trên cáng vẫn không hề nhúch nhích khi ngọn lửa bùng lên. Thái tử ngày càng thấy kì lạ, liền hỏi Xa Nặc, giọng run run “Chuyện gì xảy ra thế? Tại sao họ lại thiêu người đàn ông nằm trên cáng? Sao ông ta lại không nói gì cả?” Xa Nặc trả lời “Đây là một người đã chết. Ông ta không còn cảm giác gì nữa dù là nóng hay lạnh. Ông ta không biết bởi vì ông ta đã chết. Ông ta không còn sống nữa. Cuộc sống giờ trống rỗng, thân xác không còn nữa. Điều duy nhất vẫn còn mãi là những việc tốt hay xấu mà ông ta đã làm khi còn sống.”

Thái tử Tất Đạt Đa hỏi Xa Nặc “Ngươi đã giải thích về cái chết cho ta, nhưng liệu ta và những người khác có phải chết không?” Xa Nặc đáp lại “Cái chết không có giới hạn, không có lựa chọn, nhà vua hay dân thường, kẻ giàu hay người nghèo, tất cả đều phải chết. Bất kỳ vật gì có sự sống, một ngày kia đều phải chết. Không ai ngăn cản được cái chết ”. Nghe xong những lời giải thích này, thái tử cảm thấy bàng hoàng không thốt nên lời nào. Không có cách nào trốn thoát được cái chết, chính điều này đã kiểm soát chi phối mọi sinh vật sống trên thế gian. Một ngày kia, chúng ta sẽ phải rời xa những người mà ta yêu quý hay ghét bỏ. Thái tử lo lắng suy nghĩ “ Chẳng nhẽ lại không có ai ngăn được điều này ư?”

Thái tử Tất Đạt Đa lặng lẽ trở về hoàng cung. Chàng đến thẳng tẩm cung và suy nghĩ về những điều tai nghe mắt thấy. Chàng suy ngẫm về cái chết rồi nghĩ “Cái chết thật đáng sợ. Ai trên thế gian này rồi cũng có ngày phải chết mà không thể nào thoát được và cũng không có cách nào ngăn được” . Nhưng rồi chàng lại nghĩ “Có thể vẫn có một cách nào đó để thoát khỏi cái chết, tự mình sẽ phải tìm ra điều đó để bản thân mình, cha mẹ, vợ con, họ hàng và tất cả mọi người không ai còn phải chịu khổ đau khi giáp mặt với lão, bệnh, tử” . Để làm được việc này, chàng sẽ phải tìm ra cội nguồn chân lí , nhưng bằng cách nào? Thái tử Tất Đạt Đa lại tiếp tục suy tư.

Một hôm, khi đang cưỡi ngựa dạo chơi trong vườn thượng uyển, thái tử Tất Đạt Đa nhìn thấy một nhà sư vận y vàng. Thái tử chăm chú quan sát nhà sư đó và cố gắng tập trung tâm trí mình vào nhà sư cho đến khi chàng có thể nhìn thấu tâm trí của nhà sư. Chàng cảm thấy được sự yên bình và hòa hợp. Thái tử hỏi Xa Nặc về cuộc sống của các nhà sư. Xa Nặc tâu rằng các nhà sư thường sống một cuộc sống tách biệt với người thường. Họ đi tìm những chân lý có thể phá tan được những khổ đau của Sankhara (Hành). Thái tử Tất Đạt Đa rất hài lòng với câu trả lời này. Xa lánh thế gian - cuộc sống thoát tục, từ bỏ những cái vô thường , tìm kiếm chân lý và nguồn hạnh phúc, đó chẳng phải cũng là những điều mà thái tử đang tìm kiếm sao?

Thái tử Tất Đạt Đa tìm chỗ nghỉ chân trong vườn, ngồi xuống và suy ngẫm. Chàng nghĩ đến chuyện rời bỏ thế gian này. Trong khi chàng đang mải suy tư, một thị vệ hối hả chạy đến báo tin công chúa đã hạ sinh cho chàng một hoàng tử. Thái tử Tất Đạt Đa không hề tỏ ra vui mừng mà lại tự nhủ “một nút trói đã bị thắt lại, nút trói đã xuất hiện trong cuộc đời ta” . Đó là lý do tại sao thái tử nhỏ lại tên là La Hầu La (Phra Rahul), nghĩa là nút dây. Khi công chúa Gia Du Đà La hạ sinh thái tử nhỏ, thái tử Tất Đạt Đa đã nói rằng nút dây đã buộc quanh cổ chàng. Giống như một câu nói cổ trong tiếng Pali
“Tình yêu con giống như sợi dây thắt quanh cổ ta
Tình yêu vợ giống như sợi dây buộc quanh tay ta Tình yêu của cải giống như sợi dây quấn quanh chân ta” Đó là một dạng đau khổ mà ai muốn quyết tâm tìm kiếm con đường phá tan Dukkha (nỗi khổ) cũng đều phải đối mặt.

Từ ngày thái tử nhỏ La Hầu La ra đời, những người thân cận của thái tử Tất Đạt Đa đều nhận thấy chàng đã thay đổi. Chàng luôn chìm sâu vào suy nghĩ và điều này khiến cho vua Tịnh Phạn hết sức phiền muộn. Một lần nữa, nhà vua lại truyền lệnh cho mời các nhạc công, vũ nữ vào cung để giải khuây cho thái tử. Mặc dù tất cả đều gắng sức đàn ca múa đẹp nhưng mọi nỗ lực mua vui cho thái tử đều vô ích. Trong khi ai ai cũng tin rằng đàn ca múa hát là một nguồn gốc sinh ra hạnh phúc thì Tất Đạt Đa lại tin vào điều ngược lại (Thái tử có đến 60.000 mỹ nữ phi tần trong cung).

Thoạt đầu, thái tử Tất Đạt Đa nghe lời phụ hoàng miễn cưỡng thưởng ngoạn các trò giải trí vì chàng không muốn làm cha buồn. Nhưng chàng không hết lòng chú tâm được vì tâm trí còn mải nghĩ đến việc làm sao thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết. Cuối cùng, chàng rơi vào giấc ngủ. Các vũ nhạc công đều đã ngừng múa hát đàn ca. Tâm trí thái tử mơ hồ trong sự trống rỗng và xáo trộn.

Khi thái tử Tất Đạt Đa tỉnh dậy, chàng nhìn quanh thấy tất cả các mỹ nữ kiều diễm vẫn đang say sưa ngủ vì mệt. Trông họ lúc này không còn gì là vẻ đáng yêu nữa. Người thì há hốc mồm, dãi chảy cả xuống cằm, người khác thì vừa ngủ vừa nghiến răng. Nhìn họ thật dữ tợn và xấu xa. Thái tử Tất Đạt Đa tự hỏi “Mình đã từng yêu thích những người này ư, vậy thì vì sao nhỉ? Chỉ có thể giải thích được là cần phải dùng đầu óc của một người được giáo dục tốt và có chính niệm để nhìn nhận con người khi đánh giá nguyên nhân của đau khổ và bất hạnh.”

Hình ảnh của những vũ công và mỹ nữ trước đây hiện lên thật kiều diễm và đáng yêu đối với thái tử, nhưng lúc này trông thật gớm ghiếc, đáng sợ. Kể từ khi ra đời, thái tử Tất Đạt Đa đã có ý nghĩ rằng nếu một ngày, có bất cứ điều gì khiến tâm trí chàng xáo trộn thì chàng sẽ từ bỏ nó mà đi kiếm tìm chân lý và niềm hạnh phúc để xua tan những xáo trộn này. Thái tử Tất Đạt Đa lặng lẽ rời khỏi phòng để không làm ai tỉnh giấc, rồi lệnh cho Xa Nặc thắng ngay con ngựa Kiền Trắc. Lúc này thái tử Tất Đạt Đa đã sẵn sàng. Chàng đã biết nguồn gốc sự đau khổ và thề sẽ tìm bằng được niềm hạnh phúc và chân lý thật sự.

Trong lúc chờ Xa Nặc thắng yên ngựa, thái tử một mình đến tẩm cung, vợ và con chàng đều đang say giấc. Cánh tay nàng dịu dàng ôm ấp thái tử nhỏ La Hầu La. Thái tử muốn cầm lấy bàn tay nàng, nhưng lại sợ nàng sẽ tỉnh giấc và can ngăn không cho chàng đi. Bởi vậy, chàng nghĩ cứ lặng lẽ ra đi có thể sẽ tốt hơn. Tới khi nào tìm được điều mà chàng đang kiếm tìm, chàng sẽ trở về tế độ cho vợ và con. Nghiệp yêu con giống như sợi dây thắt quanh cổ ta, nghiệp yêu vợ giống như sợi dây buộc quanh tay ta. Thế nhưng chàng đã quyết tâm rời xa cung điện, kiếm tìm Mokkha Dhamma. Tốt hơn là ra đi lặng lẽ cho đến khi tu thành chính quả sẽ trở về chúc phúc cho tất cả.

Thái tử Tất Đạt Đa lặng lẽ rời bỏ cung điện vào lúc nửa đêm, không bị ai phát hiện. Chàng dắt ngựa đến cổng thành cùng với Xa Nặc. Sau khi đã ra khỏi cổng thành, thái tử quay người nhìn lại cung điện dưới ánh trăng một lần cuối, lòng chợt dâng lên nỗi buồn, nhưng vẫn quyết tâm ra đi. Chàng tin tưởng sẽ có ngày chàng tìm được Mokkha Dhamma, con đường thoát khỏi những xáo trộn, mà hậu quả của những xáo trộn đó là sự khốn cùng, tan nát, vô vọng và cũng chính là nguồn gốc của khổ đau.

Mới sáng sớm, thái tử Tất Đạt Đa đã đến được bờ sông A nô ma. Tại đó, chàng cởi bỏ trang phục hoàng cung rồi trao lại cho Xa Nặc. Chàng bảo Xa Nặc báo lại với vua Tịnh Phạn và vợ chàng ở thành Ka Tỳ La Vệ rằng “Thái tử Tất Đạt Đa thuộc dòng tộc Thích ca, ở tuổi 29, đã rời khỏi cung điện và trở thành tu sĩ, từ bỏ thế giới này đi kiếm tìm Mokkha Dhamma để giúp loài người thoát khỏi khổ đau.” Thái tử Tất Đạt Đa hiểu rõ rằng chứng ngộ được đạo giải thoát thật không hề đơn giản.

Sau khi Xa Nặc cùng con tuấn mã Kiền Trắc quay đầu về cung, thái tử Tất Đạt Đa phải mất bảy ngày mới đến được rừng xoài Anupya Ambhavan và nghỉ lại đó. Sau đó, chàng nhằm hướng nam tới vương quốc Ma Kiệt Đà (Makhatha). Nơi đây có thành Vương Xá (Rajjakeu) nằm dưới sự trị vì của đức vua Tần Bà Sa La (Phimphisan). Sáng sớm, sau khi tắm mình dưới dòng sông, thái tử Tất Đạt Đa tiến vào thành để “khất thực” giống như những nhà sư khác. Dân chúng nơi đây nhận thấy chàng không hề giống với những nhà sư mà họ đã từng gặp, trông chàng sạch sẽ, tuấn tú và thật đáng yêu. Bởi vậy nên nhiều người đã dâng mời chàng những món ăn ngon nhất.

Sau khi đã đi khất thực xong, thái tử Tất Đạt Đa đến Bandhava để thọ thực. Trong khi đó, dân chúng thành Vương Xá không ngừng bàn tán về nhà sư lạ mặt mà không có nhà sư nào có thể sánh bằng vì vẻ tuấn tú, đáng yêu của chàng. Cuối cùng tin tức đã đến tai nhà vua Tần Bà Sa La. Ngài liền phái thị vệ đi điều tra ngọn ngành và được biết rằng vị sư này chính là thái tử Tất Đạt Đa, con trai của vua Tịnh Phạn, thái tử của thành Ka Tỳ La Vệ, người đã từ bỏ cung điện để đi tìm kiếm con đường giải thoát khổ đau cho bản thân và cho tất cả chúng sinh.

Sau khi tường tận chuyện về nhà sư mới, vua Tần Bà Sa La đã rời cung, đích thân đến Bhandava mời thái tử Tất Đạt Đa ở lại vương quốc của mình và nguyện sẽ hiến dâng mọi thứ mà chàng cần trên con đường đi tìm chân lý. Nhưng thái tử Tất Đạt Đa đã nhẹ nhàng từ chối nhã ý của quốc vương và nói rằng chừng nào vẫn chưa tìm ra được chân lý thì chàng không thể ở đâu cố định. Vua Tần Bà Sa La lại khẩn cầu chàng hãy trở lại thành Vương Xá đầu tiên ngay sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ cao cả để truyền dạy cho ngài cùng thần dân của ngài. Thái tử Tất Đạt Đa đang tìm kiếm Sacca Dhamma (Pháp đế), qua đó có thể biết được Dukkha (nỗi khổ), hiểu được Dukkha và thoát khỏi Dukkha. Đây là tâm nguyện của thái tử.


Thái tử bế chú cừu non lên và ôm nó trong tay. Khi nhìn thấy một nhóm người chăn cừu, chàng hỏi họ tại sao lại đuổi dồn lũ cừu này dưới thời tiết nắng nóng mà không phải là buổi tối. Họ cho biết đó là lệnh vua. Họ phải mang lũ dê cừu này về thành cho kịp lễ tế thần. Thái tử nói rằng chàng sẽ đi cùng họ và bế chú cừu bị thương trên tay. “ Khi bản thân chúng ta gặp đau khổ, chúng ta mới hiểu nỗi khổ của kẻ khác. Nếu chúng ta không biết rằng ta đang chịu khổ, làm sao ta có thể thoát khỏi nó”.

Vậy là thái tử Tất Đạt Đa cùng đi với nhóm chăn cừu và bầy cừu cho đến khi họ tới được cung điện và khu vực sẽ diễn ra lễ tế thần. Đến nơi, chàng thấy nhà vua, bên cạnh là các giáo sĩ đang ngồi khấn vái thần linh. Ngọn lửa tế thần đã bùng cao và các giáo sĩ đã sẵn sàng tế dâng những con dê và cừu vừa kịp được mang đến. Khi vị giáo trưởng nâng chiếc rìu lên chuẩn bị chặt đầu con cừu đầu tiên đã được đặt sẵn trên bàn tế, thái tử liền ngăn lại.
Theo Dhamma (Pháp), sống dựa vào người khác và cướp đi cuộc sống của người khác vì hạnh phúc của chính mình là điều sai trái. Hủy hoại cuộc sống và gây chết chóc cho người khác là đi ngược lại nguyên tắc của Dhamma. Gây khó khăn phiền nhiễu tới ai đó dù trực tiếp hay gián tiếp đều bị coi là sai trái.





Một hôm, đạo sĩ Ara Karamakoth nói với thái tử Tất Đạt Đa: “Giờ đây con đã thông hiểu hết mọi điều mà ta đã chỉ dạy, trình độ của con giờ đã ngang bằng ta. Vậy con hãy ở lại và cùng ta tiếp tục truyền dạy cho các học trò” . Thái tử hỏi đạo sư xem còn điều gì ngài vẫn chưa truyền dạy cho chàng không, chẳng hạn như sức mạnh để chế ngự cuộc sống, bệnh tật và cái chết. Đạo sư Ara Karamakoth đáp lại rằng ngài không thể dạy chàng những điều này vì kiến thức đã cạn rồi. Sau đó, ngài nói “Thái tử phải đi tìm nguồn gốc của đau khổ cũng như cách thức để tìm ra nó”.

Tu sĩ Karamakoth dạy thái tử Tất Đạt Đa cách tu thiền, tức là cách tập trung tâm trí cho đến khi đạt được trạng thái hoàn toàn vắng mặt các nhận thức, tâm trí an tịnh và hài hoà. Tuy nhiên, kiến thức mà thái tử đã lĩnh hội trong những năm qua vẫn chưa đủ, đâu đâu chàng cũng vẫn nhìn thấy những chuyện vô thường của cuộc sống như khổ, lão, bệnh, tử nên chàng xin phép sư phụ được ra đi, tiếp tục tầm sư học đạo. Chàng quyết định ra đi để tiếp tục kiếm tìm đạo pháp tối hậu, điều sẽ giúp chàng chấm dứt mọi khổ đau và có thể truyền dạy lại cho những người khác.

Nghe danh Oudhaka là vị đạo sĩ giỏi nhất vùng, thái tử Tất Đạt Đa liền tìm đến. Tại đây, chàng đã học và luyện tập vô cùng hăng say với đạo sĩ Oudhaka cho đến khi lĩnh hội được hết mọi kiến thức từ người thày của mình. Vị đạo sĩ này hết sức hài lòng về trí tuệ và tài năng của thái tử Tất Đạt Đa và cũng yêu cầu chàng ở lại trường giúp ông lãnh đạo chúng đệ tử. Tuy nhiên, đó lại không phải là mong ước của thái tử.

Mặc dù những điều thái tử Tất Đạt Đa học được ở tu sĩ Oudhaka đã cao siêu hơn rất nhiều so với kiến thức học từ tu sĩ Ara, nhưng chàng vẫn không thấy thoả mãn. Chàng vẫn chưa thật sự hiểu bản chất của cuộc sống. Bởi vậy, một lần nữa chàng lại quyết định từ biệt trường học của tu sĩ Oudhaka để tự mình tìm kiếm chân lý của cuộc sống vốn là điều chàng vẫn đang tìm kiếm bấy lâu mà chưa lĩnh hội được.

Ở Ấn độ từ thời bấy giờ cho đến tận ngày nay vẫn còn có nhiều đạo sĩ bỏ nhà cửa và gia đình vì tin tưởng mãnh liệt rằng muốn được hạnh phúc khi lên cõi Trời thì không có cách nào khác hơn là ép xác khổ hạnh, không ăn. Họ cho rằng trong thế giới này, họ càng hành xác bao nhiêu thì càng được hưởng sự an lạc bấy nhiêu ở thế giới bên kia. Bởi vậy nên họ đã tích cực khổ luyện theo lối hành xác, thế nhưng phương pháp này đi ngược lại với giáo pháp của đức Phật. Đức Phật từng dạy rằng “Không nên luyện tập theo lối hành xác”.


Sau này thái tử Tất Đạt Đa mới nhận ra rằng cách luyện tập này không mang lại kết quả gì; nhưng ban đầu chàng nghĩ rằng nếu khổ luyện kết hợp nhiều lối hành xác khác nhau, chàng có thể sẽ khám phá ra chân lý mà chàng tìm kiếm lâu nay. Với nhận thức như vậy, thái tử Tất đạt Đa đã tìm đến một vùng nông thôn ở khu vực Aruvera. Đây là một vùng nông thôn rộng lớn, thanh bình với bạt ngàn cây cối, bao quanh là dòng sông nước chảy quanh năm. Ngay gần đó có một ngôi làng nhỏ nên chàng có thể đi khất thực hàng ngày. Khi đã chọn được nơi dừng chân, thái tử bắt đầu luyện tập hành xác theo nhiều cách khác nhau với niềm tin rằng chàng sẽ tìm ra “Sự thật của Dhamma”.

Bấy giờ, có rất nhiều đạo sĩ trong lòng vô cùng ngưỡng mộ thái tử. Trong số đó có năm vị tu sĩ thuộc loại xuất chúng (Pancavakkee) đã tình nguyện đến hầu hạ thái tử trong khi chàng đang tu trì. Đó là các đạo sĩ 1 - Kiều Trần Như (Godanya), 2 - Bạt Đề (Bhandya), 3 - Thực Lực (Vappa), 4 - Ma ha na ma (Mahanama), 5 - Át Bệ (Adsy). Năm đạo sĩ này hết sức tin tưởng rằng bằng cách khổ hạnh ép xác, thái tử sẽ tìm thấy đạo giải thoát mà chàng đang tìm kiếm. Đến lúc ấy, khi đã đạt đến Chính giác, nhất định họ sẽ là những người đầu tiên được chàng truyền giáo. Bởi vậy, họ tiếp tục ở lại hầu hạ chàng trong suốt thời gian chàng khổ tu hành xác.

Thái tử Tất Đạt Đa một lòng khổ luyện và cùng lúc áp dụng nhiều kiểu hành xác khác nhau, mỗi ngày chỉ ăn chút ít cho cho nên cơ thể gầy mòn hốc hác. Một ngày kia, khi đang tập luyện chàng bỗng ngất xỉu và trở nên mê man vì cơ thể đã suy nhược quá mức. Vừa may có một chú bé chăn cừu đi qua nhìn thấy thái tử đang nằm bất tỉnh. Chú bé là người trong làng nên biết chuyện thái tử đã khổ tu hành xác bằng cách nhịn ăn nhịn uống đã 49 ngày nay.

Chú bé liền quay lại chỗ bầy cừu rồi dắt theo một con cừu cái đến chỗ thái tử đang nằm. Chú vắt sữa ra bát rồi cho thái tử uống từng ngụm nhỏ đến khi chàng hồi tỉnh. Thái tử dần dần đã tỉnh táo trở lại. Chàng cố nghĩ xem chuyện gì đã xảy ra, tại sao chàng lại bất tỉnh, rồi bây giờ tỉnh lại. Thái tử Tất Đạt Đa tin rằng nếu không có bát sữa cừu thì chàng đã chết và sẽ không bao giờ còn cơ hội để tìm ra chân lý. Thái tử Tất Đạt Đa suýt nữa đã mất mạng để nhận ra rằng mặc dù hành xác là phương pháp đang được áp dụng rộng rãi thời bấy giờ nhưng rõ ràng không đem lại kết quả. Chàng tự nhủ “Hành xác khiến cơ thể người ta trở nên tàn tạ vậy thì không nên tiếp tục lối tu khổ hạnh ấy.”

Vì đã có công giúp thái tử Tất Đạt Đa thoát chết nên chú bé chăn cừu đã được thái tử cầu phúc và thấy rất hạnh phúc về điều đó. Chú sung sướng trở về với bầy cừu. Còn thái tử thì trở lại chỗ cũ, nơi chàng đã ngồi thiền, cho đến chiều tối. Lúc sau có một phường buôn đi qua. Thái tử nghe thấy tiếng hát của một phụ nữ, và còn nghe lỏm được lời một người khuyên bảo người kia “khi chơi đàn, dây đàn không được chùng quá hay căng quá. Chùng quá sẽ khiến âm thanh không được hay, còn căng quá thì dây dễ đứt. Tốt nhất là căng vừa phải, sẽ vừa tai người nghe hơn” . Khi nghe thấy lời khuyên này, thái tử thầm nghĩ “Quá căng thì dây đứt, quá chùng thì nghe sẽ không hay. Đàn chỉ nên căng dây vừa phải” .

Sau khi nghe được những lời nói đó, thái tử Tất Đạt Đa nhận ra rằng cho đến lúc này chàng đã quá căng dây cuộc đời chàng. Nếu còn tiếp tục hành xác, chàng có thể sẽ chết trước khi tìm ra chân lý. Đồng thời chàng cũng nhận thấy rằng lối tu hành này quả thật rất vô ích nên đã quyết định từ bỏ. Chàng sẽ thực hành theo lối thiền định mà trước đây chàng đã từng luyện tập. Vậy là mỗi sáng chàng lại cầm bát đi khất thực, được gì ăn nấy, cốt bảo toàn khí lực để tiếp tục công cuộc tìm nguồn gốc của chân lý (Sacca Dhanmma).

Từ bỏ lối khổ tu hành xác và trở lại ăn uống bình thường, thái tử đã hồi phục sức lực và trở lại vẻ tuấn tú trước kia. Ở chàng toát ra vẻ bình an, điềm đạm và đáng kính. Giờ đây thái tử đã hiểu thấu rằng lối tu khổ hạnh khắt khe chẳng khác nào nặn dây đàn từ đất sét, cái dây ấy làm sao phát ra âm thanh. Nói về năm vị đạo sĩ đồng tu, họ không thể nào hiểu được những suy nghĩ của thái tử. Họ nhất nhất cho rằng lối tu hành ép xác là cách duy nhất để chứng ngộ được đạo giải thoát. Khi thấy thái tử từ bỏ lối tu khắc khổ và đã bắt đầu ăn uống trở lại, họ cho rằng chàng ham thích cuộc sống sung sướng, bởi vậy họ đã rời bỏ thái tử trở về rừng Isi Pattana Mikhadhayavan. Do tầm hiểu biết hạn hẹp nên những người bình thường khó mà hiểu được những hành động suy nghĩ của thái tử.


Sau khi dâng lễ vật lên thái tử, lệnh bà Sousada cùng người hầu ra về còn thái tử ra tắm bên sông. Sau đó, thái tử trở lại chỗ ngồi rồi vắt cơm làm 49 vắt. Mỗi lúc thái tử ăn một vắt và chàng nhận thấy rằng cơm đề hồ chứa rất nhiều chất dinh dưỡng. Đây quả là một thức ăn quý giá, có thể giúp chàng duy trì sức khoẻ trong những ngày thiền tu sắp tới. Sau khi thọ thực xong , thái tử cầm bát vàng ra bờ sông. Tại đó, chàng khấn rằng “Nếu ta đắc được quả Vô thượng Chính đẳng Chính giác và trở thành Phật thì chiếc bát này sẽ trôi ngược dòng sông.”. Nói rồi chàng từ từ thả chiếc xuống dòng sông. Như có phép màu, chiếc bát trôi ngược dòng, được đến tám hắc tay thì bất ngờ chìm nghỉm xuống đáy sông.

Cũng tại đáy sông nơi đó, hiện vẫn còn bốn chiếc bát vàng khác của bốn vị Phật là: Phật Kukusandho, Phật Kona Khammano, Phật Kassapo, và Phật Khodom.
Xà vương Karanak, thường chỉ thức dậy khi ngài nghe thấy tiếng va chạm của bát vàng. Xà vương biết rằng khi chiếc bát vàng chìm xuống đáy sông và phát ra âm thanh, nó báo hiệu một vị Phật mới xuất hiện. Nó sẽ thức dậy, đảnh lễ trước đức Phật rồi lại ngủ tiếp. Câu chuyện này được giải thích như sau: Chiếc bát vàng biểu hiện cho Dhamma (Giáo pháp của nhà Phật) còn dòng sông thì biểu hiện cho loài người mà nhờ tiếp thu giáo pháp của đức Phật đã thoát khỏi vòng khổ đau (sinh, lão, bệnh, tử). Giáo pháp của đạo Phật giúp con người tìm thấy niềm hạnh phúc thật sự, đó là cõi Niết bàn. Riêng đối với Xà vương Karanak, nó cho rằng con người lúc nào cũng lắm phiền não (kilesa). Bởi vậy, ngay cả khi đã biết về sự giác ngộ của một vị Phật thì Xà vương cũng chỉ đảnh lễ rất nhanh rồi sau đó lại chìm vào giấc ngủ vì cho rằng sự giác ngộ đó rồi cũng chẳng dẫn đến đâu. Điều này chứng minh cho sự hạn hẹp trong suy nghĩ của số đông các loài trên thế gian này: mặc dù hiểu được nguồn đau khổ, nhưng lại rất ấu trĩ khi tin rằng Rupa (Sắc), Nama (danh), Rosa và Gandha chính là nguồn gốc của hạnh phúc thật sự và chính bởi vậy các loài tiếp tục phải chịu đau khổ.

Sau khi tắm mình dưới sông Ni liên thiền, thái tử Tất Đạt Đa trở lại khu rừng Vô ưu gần đó để tiếp tục tu luyện. Đến tối, chàng rời khu rừng Vô ưu đến bên cội cây Bồ đề. Chàng trải tám bó cỏ do vị Bà La Môn Sodhiva dâng tặng dưới gốc rồi ngồi xếp bằng trên cỏ, tiếp tục ngồi thiền với lòng quyết tâm mãnh liệt.


Sau khi thề nguyện, thái tử Tất Đạt Đa tập trung tâm trí, đẩy lùi mọi trở ngại của bóng đêm, xua đi những niềm hạnh phúc mong manh, nhất thời mà chàng đã từng tận hưởng và rồi dứt tâm từ bỏ. Chàng tập trung tâm trí tìm kiếm nguyên nhân gây đau khổ, nhưng vì tuổi còn trẻ (lúc ấy chàng mới 35 tuổi), nên kí ức xưa cũ như niềm hạnh phúc sung sướng, sự đầy đủ khi còn ở trong cung điện với những màn biểu diễn, những trò tiêu khiển đã liên tục hiện về trong tâm trí thái tử. Chàng tự nhủ “Ta cần phải chế ngự được tất cả”

Vào ngày mười tư tháng Sáu năm Tuất, Ma vương đã phái ba đứa con gái xinh đẹp nhất của mình là Nang Raga (Tham ái), Nang Tanha ( Ái dục ), Nang Orady (Tật đố) đến cội cây Bồ đề hòng quyến rũ thái tử Tất Đạt Đa. Tuy nhiên, không kẻ nào có thể mê hoặc được thái tử. Do oai lực của Ba La Mật của nhà Phật, ba con ma nữ ngay lập tức trở nên già nua xấu xí. Vô cùng tức giận, Ma vương liền ra lệnh cho các thế lực của bóng tối bủa vây thái tử Tất Đạt Đa hòng cướp lại bảo toạ và xua đuổi thái tử. Nhưng vì thái tử Tất Đạt Đa đã tu tích công đức trong 500 kiếp sống trước đây nên Ma vương đã không thể đáng bại được đức Phật. Ba La Mật gồm có:
Đây chính là Ba la mật mà thái tử Tất Đạt Đa đã cố công tạo được trong các kiếp sống trước. Mỗi khi thái tử làm được một việc tốt, chàng lại nhỏ một giọt nước xuống dưới đất, tất cả những nơi được nhỏ nước này đều được Đất mẹ (nữ thần thổ địa) công nhận là “Kusala Sat Kiriya.”
Thái tử Tất Đạt Đa phải đối đầu với các thế lực bóng tối, những kẻ rắp tâm muốn lấy đi tính mạng của chàng, nhưng nhờ có oai lực của Ba la mật và những giọt nước mà chàng đã nhỏ xuống đất nên Đất mẹ đã dùng phép thần tập trung mọi nguồn nước trên thế gian dâng lên xua tan bóng đêm hắc ám. Ma vương kinh sợ chắp tay xin tha mạng. Đồng thời hắn xin được giao nộp thân mình cho thái tử. Cuối cùng thái tử đã chế ngự được mọi trở ngại, đạt tới ánh sáng trí tuệ và Brommacan, đắc quả A la hán và trở thành đức Phật, Đấng Giác Ngộ toàn năng.

Lần thứ hai Thái tử Tất Đạt Đa không
những phải chế ngự những thế lực trong tâm tưởng
mà còn phải chiến đấu với những thế lực ma quỷ từ bên ngoài
Khoảng ba, bốn tiếng trước khi thái tử Tất Đạt Đa trở thành Đấng Giác ngộ, âm thanh inh ỏi từ trên trời, dưới đất và của lũ yêu ma đồng loạt nổi lên theo lệnh của tên Ma vương xấu xa. Chúng ùa đến từ mọi ngõ ngách hòng cuốn lấy bảo tọa mang về cho chủ nhân của chúng và cướp đi tính mạng của thái tử Tất Đạt Đa. Tên Ma vương tuyên bố rằng bảo tọa đó là của hắn nhưng thái tử đã từ tốn đáp lại rằng bảo tọa phải thuộc về chàng. Vì những công đức mà thái tử Tất Đạt Đa đã tu tích trong năm trăm kiếp sống trước nên hiển nhiên chàng phải phải được ưu tiên sở hữu bảo tọa này. Ma vương tỏ ý coi khinh thái tử và bắt chàng phải chỉ ra các chứng cứ. Thái tử liền chỉ ra những công đức mà chàng đã làm được cùng với phần nước mà chàng đã cúng dường cho Đất mẹ. Bỗng nhiên, Đất mẹ xuất hiện dưới hình hài của một nữ thần và cho Ma vương thấy suối nước trên mái tóc bà. Dòng nước tiếp tục tràn ra, cuốn trôi hết lũ binh ma tướng quỷ của Ma vương. Ma vương vội bay thẳng lên trời, nhưng dòng nước vẫn không ngừng bám theo sau cho đến khi hắn chịu đầu hàng và xin tha mạng. Sau sự việc đó, thái tử Tất Đạt Đa đã đắc đạo và trở thành Phật.

Trong cõi tam thiền, thái tử đã nhớ lại, thấy rõ các kiếp sống trước đây của ngài, đó gọi là “Bupenivasatijan”. Chàng chiêm nghiệm về cuộc sống của các loài vật và cách thức luân hồi tùy vào nghiệp nặng hay nhẹ. Bằng huệ nhãn, thái tử hiểu được tại sao có người được sống trong sung túc trong khi lại có kẻ phải sống trong khổ đau triền miên. Đó là vì cái nghiệp từ kiếp trước. Những người sống rộng lượng, tốt bụng trong kiếp trước thì kiếp này được hưởng sung sướng, còn những kẻ kiếp trước sống keo kiệt bủn xỉn thì sẽ phải chịu đói nghèo trong kiếp này. Mọi việc đối với thái tử giờ đều trở nên thật rõ ràng khi tâm trí chàng đã đạt ở “Tầng thiền Samadhi và Trí tuệ”.

Như vậy là phải mất sáu năm kể từ khi thái tử rời bỏ cung điện cho đến ngày chàng đạt thành Chính Giác. Đó là vào ngày rằm tháng Sáu năm Tuất. Thái tử đã trở thành Đấng Đại giác, đức Phật tối thượng và đạt được trí tuệ phi thường. Thái tử đã có được những khả năng:
4.1 Dukka Sacca - Sự đau khổ về thể xác và tâm hồn
4.2 Samoutthaiya - Nguồn gốc của đau khổ
4.3 Nirodha Sacca - Con đường diệt khổ
4.4 Mugga Sacca (8 Mugga) - Các cách luyện tập để chế ngự đau khổ (Bát chính đạo)
Những điều mà thái tử Tất Đạt Đa khám khá ra được gọi là Tứ diệu đế. Điều này giải thích tại sao ngài lại được tôn là đức Phật, người đã tự mình đạt đến Đại Giác ngộ.
Áp dụng phương pháp thiền định, sau khi đạt được đến tứ thiền, vào canh một của đêm hôm đó, thái tử Tất Đạt Đa tiếp tục luyện tập và đạt được tam thiền “Bupenisanusati” - khả năng hồi tưởng lại tiền kiếp của một người. Vào canh hai, chàng đạt đến tầng thiền Jutuppata – “Huệ nhãn” – khả năng nhìn thấu sự ẩn hiện của con người qua sinh, tử và luân hồi, và đến canh tư đêm hôm đó, chàng đã đạt đến nhất thiền Asavakkhaya - pháp giáo cuối cùng của Tứ diệu đế (gồm bốn chân lý là Dukka, Samoutthaiya, Nirodha và Mugga). Pháp giáo này giúp giải thoát mọi khổ đau khỏi tâm trí.
Khi tâm trí đã được giải thoát khỏi mọi khổ đau, đức Phật đã nói về trạng thái tinh thần của mình như sau “Khi ta đã thông hiểu Tứ diệu đế, tâm trí được giải thoát khỏi ái dục (Kamasava), khỏi ý muốn tái sinh (Pavasava) và vô minh (Avijjasava), các bước thiền cho thấy rằng ta đã thoát khỏi mọi khổ đau, hoàn thành con đường Prommacan của cuộc sống, hoàn thành sứ mạng của ta” . Trên thế gian này chưa từng có điều gì phi thường giống như những việc mà thái tử Tất Đạt Đa đã đạt được. Khi tu thành Chính giác chàng mới 35 tuổi và để đạt được mục tiêu này, chàng đã phải mất sáu năm ròng khổ luyện.

Khi đã chứng ngộ đạo giải thoát, đức Phật mới được tận hưởng niềm hạnh phúc tối thượng trong bảy tuần liền dưới gốc cây Bồ đề và những vùng quanh đó. Niềm hạnh phúc này chỉ đức Phật mới hiểu được.
Tuần thứ nhất , trong suốt thời gian bảy ngày, đức Phật ngồi dưới gốc cây Bồ đề để chứng nghiệm Hạnh phúc giải thoát (Vimuttisouk) và suy niệm về pháp Thập nhị Nhân duyên (Patijjasamuppadha) mà Ngài đã chứng ngộ được;
Tuần thứ hai , đức Phật rời cây Bồ đề, đi về hướng Đông Bắc, tại đó đứng ngắm nhìn cây Bồ đề trong bảy ngày không chớp mắt. Nơi đây sau này gọi là “Animissa Jedi”;
Tuần thứ ba, đức Phật ngồi thiền ở vị trí giữa cây bồ đề và “Animissa Jedi” trong bảy ngày nữa. Nơi đây sau này gọi là “Rattana Jongkom Jedi”;
Tuần thứ tư , đức Phật theo hướng Đông Nam trở về gốc cây Bồ đề, tại đó, Ngài ngồi xuống và suy ngẫm về Thắng pháp pidok trong bảy ngày. Nơi đây sau này gọi là “Rattanakorn Jedi”;
Tuần thứ năm, đức Phật rời cây Bồ đề, đi về hướng Đông, đến ngồi bảy ngày dưới gốc cây Vô ưu. Đây là nơi trú ngụ tạm thời của một người chăn cừu tên là Assapal Nikoth. Một hôm, một vị Bà la môn đã tỏ ra rất ngạo mạn khi hỏi đức Phật rằng “Người có đức tính như thế nào thì trở thành Bà la môn?” , đức Phật đã đáp lại rằng “Bà la môn nên là người không ích kỉ, không sợ đối mặt với việc làm sai trái, tội lỗi, và phải biết lẽ phải trên đời” . Vị Bà la môn này không nói lời nào, bỏ đi thẳng. Vừa đi, vừa tự nhủ “Tên đạo sĩ này có thể đọc được ý nghĩ của ta.”
Tuần thứ sáu , đức Phật đi về hướng Tây Nam cây Bồ đề. Nơi đó, ngài ngồi trong cái hang của cây Vô ưu trong bảy ngày, ngoài trời mưa dầm dề. Lúc đó, có một con mãng xà vương tên là Mujalinh cứ uốn mình quanh đức Phật đến bảy lần và lấy đầu mình làm ô che mưa cho đức Phật. Trong cái tĩnh lặng của ngày hôm đó, đức Phật nói “Không làm phiền người khác là đã mang lại hạnh phúc cho muôn loài trên thế gian rồi”;
Tuần thứ bảy , đức Phật rời đến một cây khác, còn gọi là Rasayatana, nằm dưới cây Bồ đề, và ở đó trong bảy ngày cuối cùng. Trong suốt thời gian đó, có hai anh em lái buôn người Miến Điện, tên là Tappoussa và Panlika đi ngang qua và trông thấy đức Phật. Họ liền mời ngài dùng lương khô (Sattu Rice) và tự xưng là hai đệ tử đầu tiên chứng được Rattana. Họ đều đã quy y Phật và quy y Pháp.
Sau bảy tuần chứng nghiệm Vimuttisouk, đức Phật đã rời đến một cội cây Vô ưu khác tên là Asapalnikoth. Tọa nơi đây, ngài đã suy ngẫm về Pháp đế do mình khám phá ra và nhận thấy rằng người thường khó mà hiểu được loại giáo pháp vi diệu nhường này. Thoạt đầu, đức Phật cho rằng nội dung của Tứ diệu đế quá phức tạp đối với người thường nên đã định sống ẩn dật, không truyền bá Tứ diệu đế cho kẻ khác.
Quyết định này của đức Phật đã gây bất bình trong giới Chư Thiên, họ nhất trí kéo nhau đến thỉnh cầu thần Saham Bhrommabodee. Chấp nhận lời thỉnh cầu, thần Saham Bhrommabodee đã quyết định xuống hạ giới, yêu cầu đức Phật hãy truyền bá cho thế gian biết về đạo pháp mà ngài đã chứng ngộ. Thần Saham Bhrommabodee đã hết lời ca tụng đức Phật, tôn ngài là đấng vĩ đại nhất, có thể nhìn thấu mọi việc. Khi ngài thấy mọi sinh linh chìm trong những tranh chấp, khổ đau, ngài cảm thấy vô cùng đau xót và xin đức Phật hãy thay đổi ý định. Điều này giải thích tại sao khi nào chúng ta cầu xin các tăng chúng giảng giải giáo pháp, chúng ta đều nói ‘Bhromma Ca Loka Dhipati Saham' để nhắc nhở chúng ta hãy nhớ tới những điều mà thần Saham Bhrommabodee đã cầu xin đức Phật.

Nghe lời thỉnh cầu của thần Saham Bhrommabodee, đức Phật liền suy ngẫm về Indrya của chúng sinh mọi cõi và so sánh họ với bốn loài sen mọc trong nước bùn, bao gồm:
Đức Phật chỉ có thể chỉ dạy đạo pháp cho ba nhóm đầu. Ví dụ, nếu có 1.000.000, chỉ có 750.000 người được giảng đạo, 250.000 người còn lại thuộc nhóm Padhaparana đành để lại.
Khi đã cân nhắc kĩ như thế, đức Phật quyết định sẽ truyền bá đạo pháp mà ngài đã chứng ngộ. Ngài nghĩ đến nhóm người thứ nhất, những người có thể hiểu ngay được đạo pháp. Đó là hai vị thầy cũ của ngài, đạo sĩ Ara và đạo sĩ Oudhaka, nhưng cả hai đều đã qua đời. Sau đó, ngài lại nghĩ tới Pancavakkhy, năm vị đạo sĩ đồng tu hành xác. Nghĩ vậy, ngài lập tức lên đường đến rừng Issipattana Mikkhadhayavan, nơi ngài đã đến vào ngày trăng tròn mười tư của tháng Tám.

Khi đức Phật mới đến bìa rừng Issipattana Mikkhadhayavan (nay là rừng Sarnath), năm đạo sĩ đã nhìn thấy ngài. Một vị nói: “Nhìn ai đang tiến tới phía chúng ta kìa, một kẻ tu hành không chịu được khổ luyện, trở lại với cuộc sống sung túc đầy đủ. Chúng ta không nên đón chào hắn, không nên kính trọng hắn và không được nhận lấy chiếc bát cùng với y vàng của hắn. Nhưng ta cũng nên chuẩn bị một chỗ ngồi cho hắn. Muốn ngồi hay đứng, mặc hắn, không cần phải mời. Một kẻ tu hành với nghị lực yếu đuối, không đủ quyết tâm như hắn không đáng để chúng ta kính trọng”.

Lúc đầu, năm đạo sĩ tỏ rõ vẻ bất kính đối với đức Phật, nhưng sau nghe lời khuyên răn, họ bắt đầu chú ý đến lời thuyết pháp của đức Phật về Pháp Tứ diệu đế. Tứ diệu đế là toàn bộ giáo pháp mà đức Phật đã chứng ngộ được vào một buổi sáng sớm ngày rằm tháng Tám năm Tuất:
Những ai muốn thoát khỏi mọi khổ đau để lên được cõi Niết bàn thì phải từ bỏ hai điều cơ bản này. Sau khi kết thúc bài thuyết pháp đầu tiên, đức Phật nhận thấy ngay rằng Kiều Trần Như đã được giải thoát, ngài liền nói: “Ayaya Si Vatapo Godhanyo” , nghĩa là “Kiều Trần Như đã chứng ngộ đạo giải thoát”. Đức Phật rất hài lòng khi có người hiểu được giáo pháp của ngài trong khoảng thời gian ngắn đến như vậy. Kiều Trần Như còn được đức Phật ban cho tên đệm là Uiya, và được đức Phật trực tiếp truyền thụ giới.
Bốn ngày sau, vào ngày mùng năm, một ngày trăng khuyết tháng Tám, đức Phật hội năm vị lại và thuyết pháp bài kinh Anantakakkhana (Vô ngã tướng kinh), nghe xong pháp này, tất cả các vị đều chứng đạo giải thoát và đắc quả A la hán. Vậy là trên thế gian lúc đó có tất cả là năm vị A la hán.
Bài thuyết pháp đầu tiên (Pháp Tứ diệu đế – 4 chân lý vi diệu) của đức Phật bao gồm các nội dung:
Tứ diệu đế - chân lý cao siêu về đạo diệt khổ - chính là giáo pháp do thái tử Tất Đạt Đa khám phá ra và sau đó đã trở thành đức Phật. Đức Phật là để chỉ một người tự mình tu luyện và đã đắc đạo, thế gian không có ai làm thầy.
Nhờ phương pháp thiền định, tâm hồn thanh cao trong sáng, thái tử Tất Đạt Đa đã khám phá ra được niềm hạnh phúc sâu kín của vạn vật, giúp ngài có thể hiểu được bản chất thực sự của Sankhara (Hành), Rupa Nama (Danh sắc) và biết cách giải thoát khỏi chúng. Rupa Nama mà đức Phật đã khám phá ra được thể hiện qua bốn chân lý vi diệu như sau:
Khổ đế (Dukkha Sacca): Đau khổ là do suy nghĩ. Suy nghĩ lại bị tác động bởi các yếu tố khách quan khó kiểm soát, nhất thời, hay thay đổi. Khi các yếu tố này xảy ra, nó khiến chúng ta có suy nghĩ sai lầm rằng “nó thuộc về tôi, về anh, về họ”, kết quả là họ phải chịu 8 cái khổ sau:
Tám điều này đều là Dukkha (Khổ), nó hay thay đổi, không bao giờ kết thúc, lúc nào cũng song hành cùng con người.
Tập đế (Samoutdhaya Sacca) – Dukkha là khổ
Tâm trí ta không biết được nguồn gốc dẫn đến đau khổ - là Lobha (Tham lam), Dhosa (giận dữ) - bởi vì con người không đạt được cái mà mình mong muốn
Moha Dreaming nói về điều con người mong muốn có được do quyền năng của Kilesa (phiền não) - Sự nhạy cảm của cảm giác Hài lòng, Vị giác, Thị giác, Thính giác và Xúc giác
Diệt đế (Nirodha Sacca): con người có lắm phiền não, nếu có thể hạn chế bớt những nhu cầu, đòi hỏi, mong muốn thì có thể diệt được tham, sân, si để mọi khổ đau có thể được gỡ bỏ.
Đạo đế (Mugga Sacca) - con đường diệt khổ, theo giáo pháp của đức Phật viết bằng tiếng Pali là “Atdhang Khikamug”, bao gồm tám nhân tố sau đây:
1.1 Dukkha - Hiểu về khổ
1.2 Samoutdha - Hiểu về nguyên nhân của khổ
1.3 Rodha - Hiểu về sự diệt khổ
1.4 Mugga - Hiểu về con đường diệt khổ
2.1 Từ bỏ ý nghĩ trả thù
2.2 Từ bỏ ý nghĩ gây tổn thương cho người khác
2.3 Từ bỏ ý nghĩ bắt nạt, quấy rầy người khác
3.1 Không nói sai, nói dối
3.2 Không nói lời lẽ tầm phào
3.3 Không nói lời thô bạo, ác khẩu
3.4 Không nói lời xằng bậy, vô ích
4.1 Không sát sinh, không giết người
4.2 Không trộm cắp hay lấy đi những vật thuộc sở hữu của người khác
4.3 Không được có hành động tà dâm, đi ngược với lời giáo huấn thứ ba của đức Phật
5.1 Không làm những nghề bất lương như buôn bán vũ khí, rượu, và thuốc lậu, buôn bán nô lệ hay các nghề mại dâm
5.2 Làm những nghề có ích cho bản thân và những người khác
5.3 Làm những nghề hợp pháp, có đạo đức đúng như đức Phật đã chỉ dạy
6.1 Cố gắng tránh không phát sinh thêm nhiều tội lỗi
6.2 Cố gắng không lặp lại tội lỗi
6.3 Cố gắng duy trì các việc thiện đang làm
6.4 Cố gắng làm thêm nhiều việc thiện
7.1 Có ý thức suy ngẫm về “Sankhara - thân thể”
7.2 Có ý thức suy ngẫm về “Vedhana - cảm thọ”
7.3 Có ý thức suy ngẫm về “Cita - tâm thức”
7.4 Có ý thức suy ngẫm về pháp giáo và tiếp cận được với chân lý
8.1 Tập trung tư tưởng vào “Pathomma Jana” (Nhất thiền)
8.2 Tập trung tư tưởng vào “Dhutiya Jana” (Nhị thiền)
8.3 Tập trung tư tưởng vào “Tatiya Jana” (Tam thiền)
8.4 Tập trung tư tưởng vào “Catutdha Jana” (Tứ thiền)
Bát Chính đạo theo tiếng Pali là “Matsima Patipadha”, nghĩa là tu luyện ở mức vừa phải, không khắt khe quá mà cũng không nhẹ nhàng quá, và được xếp vào “Sila Samadhi” như sau:
1.1 Sila = Samma Vaca (chính ngữ)
1.2 Sila = Samma Kammanta (chính nghiệp)
1.3 Sila = Samma Ajiva (chính mệnh)
2.1 Samadhi = Samma Vayama (chính tinh tiến)
2.2 Samadhi = Samma Sati (chính niệm)
2.3 Samadhi = Samma Sati (chính định)
3.1 Wisdom = Samma Dhitthi (chính kiến)
3.2 Wisdom = Samma Sangkappa (chính tư duy)
Sau khi thuyết pháp cho năm vị đạo sĩ Pancavakkhy và cả năm vị đều được giác ngộ trở thành năm vị A la hán đầu tiên trên thế gian, đức Phật cùng năm vị này đã ngự đi thuyết pháp lần đầu tiên tại khu rừng Issipata Namikkhadhayavan. Trong khi đang thuyết pháp trong rừng, Yasa cùng bốn người bạn tình cờ đi qua và trông thấy đức Phật. Được đức Phật thuyết pháp với giáo pháp “Ehi Bhikkhu Uppa Sampadha”, cả năm người cùng chứng được đạo giải thoát và đều đắc quả A la hán. Về phần gia đình, vợ con của Yasa và những người bạn, sau khi được thuyết pháp, tất cả đều qui y đức Phật, trở thành các nam tín đồ (Upasok) và nữ tín đồ (Upasika) tu tại gia của nhà Phật (Ưu bà tái và ưu bà di).
Lúc này trên thế gian đã có mười vị A la hán và ba loại môn đệ xuất gia là Tỳ khưu, Ưu bà tái, và Ưu bà di. Cũng trong đợt thuyết giáo đó, có thêm năm mươi người nữa sống ở khu vực lân cận, hay tin đức Yasa đã qui y Phật, đã rủ nhau vào rừng, xin được xuất gia. Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, cả năm mươi người này đều trở thành A la hán. Như vậy là sau đợt thuyết pháp đầu tiên của đức Phật đã có tất cả là sáu mươi vị A la hán.

Sau khi kết thúc đợt thuyết pháp đầu tiên kéo dài ròng rã ba tháng, đức Phật đã hội các môn đệ lại và quyết định phái họ đi khắp nơi để truyền bá Giáo pháp. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ khưu, giờ đây các ngươi đã được giải thoát khỏi mọi đau khổ trên thế gian và xuất thế gian, vậy các ngươi hãy đi đi, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng nhân từ đối với thế gian, vì hạnh phúc của các vị Chư Thiên và loài người. Các người hãy đi nhưng đừng đi hai người một hướng. Các ngươi hãy truyền bá đạo pháp thật cặn kẽ cả phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, hãy tuyên bố Brommajana (cuộc sống tôn giáo cao quý) thật rõ ràng, hoàn chỉnh cả trong ý tứ và lời văn. Thế gian này, biết bao người vẫn còn đau khổ, và sẽ mãi đau khổ nếu không được nghe giảng về đạo pháp. Nhiều người họ có thể hiểu được Phật pháp. Còn ta sẽ đến Medhi Dhammaporn Prayul Dhamoumacitto ở Aruvere để giảng đạo”.
Như vậy, qua lời dạy đầu tiên của đức Phật, ta thấy ý định của Ngài rất rõ ràng: cử các môn đệ đi khắp nơi để truyền bá Giáo pháp và thực hiện ba nhiệm vụ quan trọng, theo tiếng Pali là “Caladhabikkha Vecaurikkang”.
Phahousane Soukkhaya Lo Kanoukampaya nghĩa là Phahoudhitaya mang lợi ích đến cho số đông loài người, và trong vai trò là môn đệ nhà Phật, họ có nhiệm vụ truyền đạo và mở rộng giáo hội. Chính vì lẽ đó, trước khi học cách truyền đạo, họ phải tự luyện mình thông thạo cả Dhamma Desana, Dhamma Sakassa và Uppabhe Kassinnaka, phải biết mục đích, thời gian và nơi truyền đạo. Ngoài ra, cũng phải luôn nhắc mình nhớ đạo pháp đầu tiên rất tinh vi và phức tạp của đức Phật. Đức Phật nhận ra rằng Đạo pháp của ngài rất khó hiểu vì con người vướng vào quá nhiều đau khổ, bởi vậy, ngài luôn luôn nhấn mạnh việc truyền bá đạo pháp phải thực hiện ở nơi có thể mang lại lợi ích cho số đông.
Khi một tỳ khưu muốn truyền đạo thì cho dù ở đâu, đạo pháp đó cũng phải mang lại lợi ích cho dân chúng nơi đó. Ví dụ đối với những người nghèo và đói khát liệu có thể giúp đưa họ lên cõi Niết bàn không? Lúc này lại phải nghĩ đến những lợi ích của Chân đế (Paramattha Dhamma) và phải chấp nhận một thực tế là lợi ích phải giành cho số đông. Một ví dụ khác là trường hợp con bò chỉ có hai sừng, cũng có thể liên tưởng đến việc số người có thể nhập cõi Niết bàn (chỉ là hai người). Ngược lại, số đông không lên được cõi Niết bàn thì nhiều vô kể, nhiều như số lông trên mình con bò đó. Bởi vậy, ta sẽ phải tự hỏi rằng: “Liệu có phải rằng số đông loài người sẽ không được giải thoát? Hay là họ bị bỏ mặc?” Trong trường hợp đó ta cần suy ngẫm về cách mà đức Phật đã cân nhắc để quyết định truyền bá giáo pháp, bắt đầu từ Buphik Khadha - Sakka Khadha - Kamadhinok - Ariya Sacca Dhamma (các giáo pháp của đức Phật được truyền dạy tuần tự từ trình độ thấp lên trình độ cao, đức Phật luôn răn dạy những lợi ích của việc làm từ thiện và sự tôn trọng giáo pháp sẽ giúp con người khi chết đi được hưởng niềm hạnh phúc ở cõi trời, đức Phật cũng răn dạy về những ảnh hưởng xấu của thói nhục dục và sau đó dạy về Tứ diệu đế.)
Abupphik Khadha là "Giới - Bố thí - Bhavana - Lời giáo huấn, Cúng dường và Thiền định" bao gồm các giảng giải về "Sakkha Khadha" là về những lợi ích của việc làm từ thiện và sự tôn trọng những lời giáo huấn của đức Phật sẽ giúp con người khi chết đi được hưởng niềm hạnh phúc ở cõi trời và Kamadhinok là khi đã hiểu được những ảnh hưởng xấu của thú nhục dục con người sẽ bỏ Sắc để bắt đầu tu luyện.
Khi đức Phật giảng đạo, người luôn nhấn mạnh đến lợi ích đối với số đông, còn chúng ta lại quên mất điều này. Bởi vậy, việc truyền bá giáo lý của đức Phật không được mỹ mãn như mong đợi. Dân số của Lào là hơn ba triệu người, trong đó, số dân theo Đạo Phật chiếm 95%. Tuy nhiên, đất nước này hiện vẫn đang trong tình trạng kém phát triển. Nguyên do vì đâu? Tại sao giáo pháp của đức Phật vi diệu đến thế mà người dân Lào vẫn phải chịu cảnh tụt hậu?
Nguyên nhân của nghèo đói là gì? Chẳng hạn tại các nước Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanma và Sri Lanka, người dân luôn tự nhận là theo phái Theravana (Tiểu Thừa hay Nam Tông). Tuy nhiên, những nước này vẫn còn nghèo đói, nguyên nhân là do họ đã phạm sai lầm trong cách truyền bá đạo pháp. Hơn nữa, từ sau khi đức Phật nhập cõi Niết bàn, Đạo Phật ở những nơi này đã được phát triển theo một cách khác hẳn. Tăng chúng sống một cuộc sống rất đầy đủ, trong khi trước đây, dưới thời đức Phật, điều này là không được phép. Thời ấy, tăng chúng phải ngủ trong rừng hoặc dưới gốc cây. Còn ngày nay, Tăng chúng có cuộc sống khá giả, chỉ phải làm mỗi việc là tụng kinh Mangala và tổ chức các nghi lễ truyền thống. Còn những việc cúng tế khác, họ chỉ làm khi có yêu cầu. Tăng chúng chủ trì các lễ cầu siêu, làm lễ nhập trạch hay lễ cầu phúc cho việc kinh doanh. Ai muốn mời các thầy làm lễ thì phải chuẩn bị tất cả, các thầy chỉ việc cúng tế. Điều này khác hẳn với trước kia, khi đức Phật còn ngự trên thế gian. Tăng chúng phải tự xây lấy đền chùa với sự hỗ trợ của Phật tử về khoản vật liệu và tiền bạc. Thời ấy, tăng chúng thông tuệ về nhiều lĩnh vực chứ không chỉ truyền bá đạo pháp. Tăng chúng không những giảng đạo mà còn thật sự hành đạo cùng với Phật tử. Họ góp phần không nhỏ vào việc chấn hưng đất nước. Còn thời nay, tăng chúng không cần làm gì cả. Họ đơn thuần chỉ là “những người chủ trì các nghi lễ truyền thống” và vì vậy, không thể giúp gì cho việc phát triển cộng đồng. Thậm chí ở một vài nơi, nhiệm vụ của các thầy chỉ là trông nom đền chùa và ngồi đợi các bữa ăn.
Có một thực tế là các tăng già thời nay chỉ học đạo về mặt lý thuyết chứ không có hành đạo. Như thế thì chẳng có ích gì cả. Thông thường, khi đã học đạo, chúng ta phải hành đạo để có thể mang lại lợi ích cho xã hội. Nếu tăng chúng có thể nêu gương tốt thì họ mới có được niềm tin từ mọi người. Tăng chúng cần phải hướng cho các môn đệ tránh xa những trò cám dỗ như cá cược, đỏ đen,… Trong việc giảng dạy đạo pháp, tăng chúng cần xem xét những lợi ích có thể mang lại cho cộng đồng cũng như trình độ hiểu biết và thói quen sống của cộng đồng người dân theo đạo vì mỗi nơi mỗi khác.
Lợi ích của việc hành đạo là gì? Khi ấy, tăng chúng nên bàn về Pháp Dhitthadham. Không nên chỉ đề cập đến những lợi ích của pháp Dhitthadham đã được nghiên cứu trong bốn lĩnh vực “Udha Sampadha, Alakkha Sampadha hay Kalayanimitta và Thassama Jivitta” mà cũng nên giới thiệu thêm cả những pháp khác để khi thực hành, con người có thể đạt được chân hạnh phúc. Tăng chúng cần phải biết được trình độ, khả năng thực tế của một người để giới thiệu những đạo pháp ở mức độ tương ứng, như vậy đạo pháp mới mang đến những lợi ích đầy đủ. Tăng già cần chỉ ra đâu là cám dỗ bởi chính những cám dỗ là nguyên nhân và nguồn gốc của mọi sự tan vỡ. Nếu không dẹp bỏ được những cám dỗ này thì sẽ không thể phát đạt được.

Sau khi đức Phật phái các đệ tử mỗi người đi một ngả để truyền bá Chính pháp, ngài cũng lên đường đến vùng Aruvera. Dọc đường, đức Phật đã thuyết pháp cho ba mươi thanh niên của làng Clan Phandhavakkhy. Cả ba mươi thanh niên này đều đắc quả A la hán, được đức Phật truyền thụ giới và lại được phái đi truyền đạo ở những nơi khác. Trong hai tháng ở tại Aruvera, đức Phật đã khuất phục được tính ngoan cố của đạo sĩ Aruvera Kassapa. Đạo sĩ này có 500 đồ đệ. Hai người em là Satil Nadhi Kassapa và Khaya Kassapa, mỗi người lần lượt có 300 và 200 đồ đệ, cũng đã được đức Phật thuyết pháp. Trong chuyến đi này, đức Phật đã độ được thêm 1003 đệ tử và đã cùng họ đến vùng Khaya Sisa. Dân chúng nơi đây cũng đã được giác ngộ giáo lý nhà Phật và đều đắc quả A la hán.

Đức Phật đã dẫn 1003 A la hán đến thành Vương Xá do đức vua Tần Bà Sa La trị vì và nghỉ tại một khu rừng có tên là Litdhivan. Hay tin đức Phật sắp đến, đức vua liền cùng bá quan văn võ đích thân nghênh đón. Dân chúng nơi đây cùng kéo đến nghênh đón và tỏ lòng tôn kính đức Phật cao quý. Đức Phật đã bảo đại đức Aruvera Kassapa truyền giáo cho dân chúng về Satil faith. Đích thân đức Phật dạy về Anupubhapikkhadha trong bài thuyết giáo của ngài. Nghe xong, đức vua Tần Bà Sa La và số đông các triều thần đều đã chứng đạo, trong khi đó, những người chưa hề chứng đạo thì đã tự nhận là Buddhamamaka (môn đệ nhà Phật).

Sáng hôm sau, đức Phật cùng với các vị tỳ khưu thọ thực tại cung điện theo lời mời của Vua Tần Bà Sa La. Nhân dịp này, nhà vua ngỏ ý muốn dâng tặng đức Phật và các môn đệ vườn thượng uyển Veruvanna (Trúc lâm). Như vậy, Tịnh xá Trúc lâm đã trở thành nơi Phật ngự đầu tiên trên thế giới.
Lí do khiến Vua Tần Bà Sa La muốn dâng tặng Tịnh xá Trúc lâm cho đức Phật chính là vì ngài luôn ao ước trở thành vị vua đầu tiên được một đấng Đại Giác thuyết giáo và cũng bởi vì trước đây khi vẫn đang trong quá trình tìm kiếm chân lý, thái tử Tất Đạt Đa đã hứa sẽ trở lại sau khi ngài tu thành chính quả và ngài sẽ trở thành vị vua đầu tiên được truyền dạy đạo pháp. Đức Phật đã giữ lời hứa và trở lại tìm gặp đức vua Tần Bà Sa La đầu tiên. Bởi vậy, đức vua đã dâng tặng ngài Tịnh xá Trúc Lâm, ngôi đền Phật giáo đầu tiên, để toàn cõi thế gian biết rằng cái nôi của Phật giáo chính là thành Vương Xá của vương quốc Makkhot. Cũng vì lí do đó mà ngôn ngữ Makkhot đã được sử dụng rộng rãi trong Phật giáo cho tới ngày nay.

Trong thời gian ngự tại tịnh xá, một hôm khi đang trên đường đi khất thực, đức Phật đã trông thấy một thanh niên đứng giữa đường, khắp người nhễ nhại mồ hôi như vừa ngâm dưới nước lên. Cậu ta đang chắp tay bái lạy sáu phương Đông, Tây , Nam , Bắc, Trời, Đất. Rồi sau đó, cậu ta rắc gạo và bày thức ăn ra khắp xung quanh. Cậu ta đang tỏ lòng biết ơn cha mẹ và thực hiện những điều mà cha mẹ dặn dò.

Sau khi chứng kiến toàn bộ sự việc đó, đức Phật liền bảo cậu thanh niên kia giải thích hành động kì lạ của mình. Cậu nói “Trước khi qua đời, cha tôi đã dặn rằng phải làm việc này đều đặn mỗi sáng để quỷ thần khắp bốn phương là các vị Chư Thiên và yêu ma dưới đất không quấy nhiễu cha tôi”. Nghe xong lời giải thích, đức Phật mới nói rằng: “Ngươi có tâm muốn giữ lời hứa với cha ngươi, đó là điều tốt, nhưng chủ đích của cha ngươi không phải bảo ngươi làm những việc này đâu”. Rồi ngài từ từ giải thích cho cậu thanh niên.

“Lý do người cha quá cố dặn ngươi đặt lễ và bái lạy ở phương Đông là vì cha ngươi có ý nhắc nhở ngươi phải luôn hiếu kính với những người đã mang đến cuộc sống cho ngươi, đặc biệt là cha mẹ ngươi. Dặn ngươi hành lễ ở phương Nam là vì cha ngươi có ý muốn ngươi phải có lòng tôn kính đối với các vị đạo sư, người đã truyền cho ngươi kiến thức và trí khôn. Dặn ngươi hành lễ ở phương Tây là vì cha ngươi có ý muốn ngươi phải biết chăm lo chu đáo cho vợ con ngươi. Dặn ngươi hành lễ ở phương Bắc là vì cha ngươi có ý muốn ngươi hết lòng yêu thương giúp đỡ bạn bè, bà con, hàng xóm. Dặn ngươi hành lễ với Trời là có ý muốn ngươi phải biết tôn kính các vị thầy tu, các bậc hiền nhân,…. Là con người thì phải biết tôn kính cha mẹ, sư phụ và những người đã giúp đỡ mình”

“Dặn ngươi hành lễ với Đất là vì cha ngươi có ý muốn ngươi phải luôn biết quý trọng cuộc sống của mọi sinh vật trên thế gian không kể kích cỡ bởi vì ai cũng muốn có hạnh phúc trên đời. Đây mới đúng thực là lời dặn của cha ngươi trước khi nhắm mắt. Làm được như vậy, ngươi cũng có thể bảo vệ bản thân mình khỏi những phiền nhiễu trong đời” . Đức Phật giải thích rõ ràng tỉ mỉ cho chàng Sinkhara cách đối nhân xử thế trong cuộc sống để ai ai cũng có được hạnh phúc và sung sướng. Ngài cũng giải thích cho cậu những lợi ích có được nếu không giết hại loài vật, không ăn trộm ăn cắp, không đắm mình trong lạc thú, không nói dối, và không uống rượu vì những điều đó sẽ huỷ hoại nhân cách con người.

Thêm vào đó, đức Phật cũng khuyên chàng trai chỉ làm việc này vào những dịp thích hợp để cầu mong sự thịnh vượng, vì cần phải tiết kiệm tiền kiếm được, không được tiêu tiền hoang phí, vô ích vì hạnh phúc cá nhân và của những người khác. Ngài còn khuyên chàng nên chia những đồng tiền vất vả mới kiếm được thành bốn phần, phần thứ nhất dùng để chi tiêu cho cuộc sống hằng ngày của gia đình, phần thứ hai dành để phát triển nghề nghiệp, phần thứ ba chi dùng cho những ngày mưa hạn hay trong những lúc khó khăn, phần thứ tư để giúp đỡ cha mẹ, anh em, bạn bè, xóm làng khi cần thiết. Sinkhara nghe những lời này với một thái độ rất tôn kính, sau đó chàng đã xin xuất gia theo Phật. Chàng hứa sẽ tiếp tục hành lễ theo lời chỉ dạy của đức Phật và mãi mãi sống một cuộc sống ngay thẳng theo những giáo lý nhà Phật.

Khi đức phật còn ngự ở Tịnh xá, có một giáo phái tên là “Paripasoka”, giáo chủ của giáo phái này là Sonxay. Giáo phái này có khoảng 200 người, trong đó Xá Lợi Phất (Uppatissa) và Mục Kiền Liên (Kolita) được coi là khôn ngoan lanh lợi nhất nhóm. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là đôi bạn chí thân, cả hai quyết tâm cùng nhau học một cái gì đó thật siêu phàm gọi là Ammatta Dhamma (Đạo bất tử). Họ nghĩ rằng không thể học được đạo này từ giáo chủ nên đã tự đi tầm sư học đạo, và hứa với nhau rằng ai tìm ra trước thì sẽ dạy lại cho người kia. Ammatta Dhamma chỉ có thể tìm thấy trong giáo pháp của đức Phật, đó là những nguyên tắc của tự nhiên.

Vào một buổi sáng sớm, khi Xá Lợi Phất đang đi dạo trong thành thì chợt nhìn thấy đức Assasi đang khất thực. Xá Lợi Phất để ý ngay đến đức Assasi bởi vẻ lịch thiệp, điềm đạm và rất hòa nhã. Xá Lợi Phất rất ấn tượng với đức Assasi và càng đến gần càng thấy có thiện cảm với đức Assasi vì ngài có vẻ mặt lúc nào cũng vui tươi, đầy nhân từ, không đượm chút buồn bã lo lắng. Xa Lợi Phất cho rằng đức Assasi hẳn sẽ tu thành chính quả, chính là người mà chàng đang tìm kiếm. Nếu không đúng như vậy thì ít nhất vị tu sĩ này cũng phải là đồ đệ của một đạo sĩ đã tu thành chính quả. Bởi vậy, Xá Lợi Phất rất háo hức muốn biết về đức Assasi và vị đạo sư của ngài. Xá Lợi Phất quyết tìm ra sự thật.

Tuy nhiên, thật không phải nếu tiến lại hỏi thăm khi đức Assasi đang trong lúc khất thực, bởi vậy chàng phải đợi. Chàng từ từ theo sau đức Assasi một quãng dài. Khi đã khất thực xong, đức Assasi tiến về phía cổng thành để trở lại Tịnh xá. Lúc đó, Xá Lợi Phất mới kính cẩn tiến đến và nói “Thưa Ngài, trông ngài rất thanh thản và đáng kính, gương mặt ngài rất trong sáng, xin hãy cho biết nơi ở, tên tuổi của ngài cùng với vị đạo sư của ngài. Tại sao ngài lại rời bỏ anh em gia đình để sống cuộc sống như vậy. Xin hãy giảng giải cho tôi'.

Đức Assasi mỉm cười đáp lại “Bần đạo là Assasi, vị đạo sư của bần đạo là vị Sa môn Cồ Đàm (Samma Khodom), thái tử Vương quốc dòng Thích Ca. Người đã từ bỏ ngai vàng để tìm đến với cuộc sống Brommacan cho đến khi đạt thành chính quả. Bần đạo rời xa gia đình, họ hàng và đi theo đức Phật. Tất cả những gì bần đạo đã làm chính là học theo giáo pháp của đức Phật ". Xá Lợi Phất nghĩ bụng, có lẽ đức Assasi biết điều gì đó về Đạo bất tử mà chàng và Mục Kiền Liên đang kiếm tìm bấy lâu. Bởi vậy chàng rất háo hức muốn nghe lời chỉ dạy của đức Assasi "Thưa ngài, ngài vừa nhắc đến giáo pháp của vị tôn sư của ngài, vậy vị đó dạy gì, và dạy như thế nào, xin hãy giải thích cho tôi vì tôi rất muốn được biết."

Đức Assasi từ tốn trả lời “Bần đạo gia nhập giới tu hành, đi theo đức Phật chưa lâu, bởi vậy bần đạo không thể giảng giải cặn kẽ cho thí chủ. Tuy nhiên, nếu thí chủ vẫn muốn nghe, bần đạo xin giảng giải ngắn gọn về hai, ba vấn đề." Xá Lợi Phất nói rằng chàng rất muốn nghe. Đức Assasi liền nói "Đức Phật đã dạy rằng: bất cứ điều gì nếu có nguyên nhân sinh ra đều có liên hệ với nguyên nhân gây đau khổ, và đó cũng chính là nguyên tắc diệt đau khổ.”

Khi nghe những lời giảng giải của đức Assasi, Xá Lợi Phất nhận thức ngay được sự chân lý của Giáo pháp, đó là, bất cứ điều gì đã nảy sinh hoặc sẽ nảy sinh, cho dù muốn hay không, rồi cũng có một ngày phải chấm dứt. Rõ ràng chỉ có điều gì không nảy sinh thì mới thoát khỏi cái chết hay sự kết thúc. Xá Lợi Phất nói với đức Assasi rằng "Nếu đây là điều mà ngài học được từ sư phụ, rõ ràng ngài đã chứng đạo quả giác ngộ, vượt lên cả cái chết, điều chưa bao giờ tồn tại trên thế gian này." Sau khi cảm ơn đức Assasi, Xá Lợi Phất hỏi thăm nơi ở của đức Phật và các môn đệ rồi chào tạm biệt đức Assasi. Như vậy là chàng có thể báo cho người bạn thân Mục Kiền Liên biết rằng chàng đã tìm được Đạo bất tử, không còn nghi ngờ gì nữa.

Giờ đây, sắc mặt Xá Lợi Phất trông cũng rất vui tươi hạnh phúc, giống như đức Assasi, người đã giảng giải đạo giải thoát cho chàng. Người bạn thân của Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, khi gặp chàng cũng nhận ra ngay sự thay đổi trong sắc mặt của chàng, liền hỏi: "Có chuyện gì vậy? Trông bạn rất vui vẻ, hạnh phúc và thanh thản. Chắc bạn đã tìm ra Đạo bất tử mà chúng ta đang tìm kiếm?" Xá Lợi Phất đáp lời "Phải đấy. Tôi đã tìm ra Đạo bất tử. Mục Kiền Liên liền hỏi như một cái máy "Nó như thế nào?" và Xá Lợi Phất đã thuật lại rằng chàng đã gặp một thầy tu rất lạ rồi sau đó, nhắc lại lời của đức Assasi "Pháp dành cho những người hiểu và tin nó, nếu chứng ngộ được đạo pháp thì sẽ thoát khỏi mọi khổ đau"

Khi nghe những lời Xá Lợi Phất nói, Mục Kiền Liên đã hình dung thấy đạo pháp trong đầu và hiểu rằng Ammatta Dhamma (Đạo bất tử) đã luôn tồn tại, trước cả khi đức Phật khám phá ra nó. Ammatta Dhamma không phải dưới hình thức của Rupa, Rosa, Sadda, Gandha, Phodhappha và Dhammarom, và vì vậy Rupa, Rosa, Sadda và Mano không thể cảm được Ammatta Dhamma, vậy nên Ammatta Dhamma là bất diệt. Cuối cùng, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cùng các môn đệ của giáo phái Parisoka đã đến Tịnh xá Trúc lâm đảnh lễ trước đức Phật. Tất cả sau đó đều được đức Phật độ cho, ngoại trừ Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên vì hai vị đã được đức Assasi thuyết pháp từ trước và đã chứng ngay Sotappana ( Tu đà Huờn ) . Bảy ngày sau khi xuất gia, Mục Kiền Liên đã đắc quả A La Hán, trong khi Xá Lợi Phất phải mất tới mười lăm ngày.
Sau đó, Xá Lợi Phất được phong là đệ tử tay phải và gọi là đức Saribouth còn Mục Kiền Liên được phong là đệ tử tay trái, gọi là đức Mokkhanla. Hai từ Phra Khadha do đức Assasi đưa ra, sau này được phong cho đức Assasi, thành Phra Khadha Assasi và vẫn được kể lại trong đạo Phật cho tới ngày nay.

Khi đức Phật còn ngự ở Tịnh xá Trúc Lâm, có một buổi thuyết pháp lớn, theo tiếng Phạn gọi là Caturongkha Sannibhath. Để có được buổi thuyết pháp này thì phải hội đủ bốn yếu tố Unrathakatha như sau:
Buổi thuyết pháp Caturongkha Sannibhath được coi là một trong những sự kiện lớn của đạo Phật. Bởi vậy, các môn đệ của nhà Phật trên khắp thế giới đều tổ chức kỷ niệm ngày này vào ngày rằm tháng Ba hàng năm để tưởng nhớ đến đức Phật và 1250 vị A la hán khi đó. Ngày này được gọi là ngày Makha Puja Day. Trong buổi thuyết giáo gồm 1250 vị A la hán đó, đức Phật đã thuyết về Desana Patimokkha, nhấn mạnh những điều sau:
Đây chính là nội dung chính của đạo Phật trong lần chuyển pháp luân đầu tiên của đức Phật.

Sau khi đại đức Mokkhanla và đại đức Saribouth xuất gia, đức Phật chủ trì một buổi thuyết pháp lớn bao gồm tất cả các vị A la hán. Đây được coi là một trong những sự kiện quan trọng nhất – ngày Maga Puja của Phật giáo khắp nơi trên thế giới. Tới dự buổi thuyết giáo này là 1250 vị A la hán do chính đức Phật sắc phong (ordain) và đã được đức Phật phái đi khắp nơi để truyền bá đạo pháp. Không hề hẹn trước, họ đều vô tình trở về thành Vương Xá để vấn an đức Phật vào cùng một ngày. Buổi thuyết pháp này gọi là Caturongkha Sannibhath. Trong suốt buổi thuyết pháp, đức Phật đã giảng giải đạo pháp, tập trung vào ba mươi hai nguyên tắc cư xử trong nhà Phật, trước tiên là không làm điều ác, luôn làm điều thiện, giữ tâm trong sạch, hiểu con đường đến Niết bàn, sống giản dị, trong sạch, thận trọng trong cách cư xử, không phô trương phép thuật, không nói chuyện tầm phào, không quấy rầy bản thân và những người khác. Những lời dạy của đức Phật dành riêng cho các vị A la hán trong buổi thuyết pháp này đã được coi như giáo pháp nhà Phật và vẫn được tuân thủ cho tới ngày nay.

Được tin thái tử đã đắc đạo, trở thành Phật và về ngự ở Tịnh xá Trúc Lâm, đức vua Tịnh Phạn liền cho người đi đón đức Phật trở về. Tuy nhiên, tất cả các đại thần được phái đến Tịnh xá, sau khi nghe đạo pháp đều xuất gia trở thành đệ tử của Phật, quên hết lời dặn của đức vua, không bao giờ trở lại. Cuối cùng, đức vua quyết định phái một vị đại thần tên là Karudhayi. Vị này vô cùng thông minh sắc sảo, vốn là bạn thân lúc thiếu thời của thái tử. Karudhayi đã được biết tất cả mọi người sau khi nghe giáo pháp của đức Phật đều xin xuất gia tu hành. Bởi vậy, đến lượt mình, khi đức Phật bắt đầu giảng đạo, Karudhayi liền lấy bông nhét vào hai lỗ tai. Chỉ sau khi đức Phật thuyết pháp xong, Karudhayi mới tháo bông ra rồi cúi xin đức Phật hãy trở về thành Ka Tỳ La Vệ tế độ cho đức vua, vợ con và cả hoàng gia. Đức Phật nhận lời và quyết định trở về thành Ka Tỳ La Vệ tế độ cho quyến thuộc trong lần chuyển pháp luân thứ hai.

Đức Phật cùng với các vị chư tăng đến thành Ka Tỳ La Vệ vào lúc tối trời và nghỉ tại vườn Nikhodharam ở phía ngoài thành theo sự sắp xếp của vua Tịnh Phạn. Sáng hôm sau, như thường lệ, đức Phật cùng các vị chư tăng cầm bát đi khất thực. Ngài cũng vào thành khất thực và tế độ cho dân chúng. Lính canh cổng đã báo tin này cho nhà vua, điều này khiến ngài vô cùng tức giận vì cho rằng đức Phật đã hạ mình mà giao thiệp với đám dân thường.

Nhà vua ngay lập tức cho chuẩn bị sa giá đến nơi mà đức Phật đang khất thực. Đến nơi, đức vua chứng kiến cảnh đức Phật đang đứng giữa đám đông, trong tay là chiếc bát đựng đầy đồ cúng tế. Trên đường đức Phật đến cung điện, dân chúng đứng đầy hai bên đường vui mừng nghênh đón. Đức vua trong lòng vô cùng giận dữ vì nghĩ rằng mọi thứ trong vương quốc này đều thuộc về ngài, ngài có thể lấy đi bất cứ cái gì, bất cứ lúc nào mà không cần cầu xin ai cả. Trong khi đó, đối với đức Phật, và cả những người đã chứng ngộ đạo giải thoát, đây chỉ là một công việc vẫn làm thường ngày.

Đức vua liền tiến đến chỗ đức Phật và nói đầy vẻ thất vọng: "Con trai yêu quý nhất của ta, ta thật không hài lòng khi chứng kiến cảnh này. Tại sao con lại phải cầm bát đi khất thực? Con rời bỏ hoàng cung chỉ vì những thứ này thôi sao? Con là con trai ta, người trị vì vương quốc, và cũng là một thái tử nữa. Nhưng con trai, thái tử yêu quý nhất của ta đã khiến cả hoàng gia ta phải hổ thẹn. Chưa từng có ai trong gia đình ta phải làm cái công việc đáng hổ thẹn này, xin của bố thí từ đám dân thường". Thế nhưng trong suy nghĩ của đức Phật, đây là một việc đúng đắn mà đức Bồ Tát từ bi cần phải làm để tế độ cho mọi chúng sinh thoát khỏi khổ đau.

Khi thấy đức vua giận dữ vì nhầm tưởng khất thực là ăn xin, đức Phật liền nói: "Tâu đại vương, đây là phận sự mà tất cả các chư Phật đều làm trong quá khứ." Đức vua khẳng định "Trong trí nhớ của thần dân thành Ka Tỳ La Vệ này thì chưa từng có ai trong hoàng tộc lại làm một việc đáng hổ thẹn đến chừng ấy" . Đức Phật mới đáp rằng "Tâu đại vương, ngài nói đúng, nhưng lúc này, ta không nói đến người thừa kế ngai vàng mà nói đến phận sự của đức Phật từ bao đời trước đây."

Đức Phật nói tiếp "Bởi giờ ta đã là người tu hành nên những việc ta đang làm là hợp lẽ, đúng phận sự, đúng như những gì mà các vị chư Phật đã từng làm, khất thực chính là cách để tế độ cho chúng sinh. Sau đó, đức Phật giảng giải ngắn gọn về Pháp đế cho đức vua nghe. Đức vua cố gắng hiểu những điều mà đức Phật nói, trong lòng đã nguôi giận. Cuối cùng nhà vua đã chấp nhận chiếc bát khất thực từ đức Phật, rồi mời đức Phật cùng các môn đệ vào cung để họ có thể tiếp tục đi khất thực. Đức Phật nhận lời mời rồi cùng các môn đệ tiến vào thành.

Khi đức Phật vào cung, đức vua và gia quyến đã chuẩn bị bữa sáng và mời đức Phật thọ thực trong chiếc bát khất thực. Sau đó, đức Phật bắt đầu thuyết pháp cho đức vua, di dưỡng cùng với các thành viên khác trong hoàng tộc. Ngài cố gắng giảng giải thật cặn kẽ, dễ hiểu về pháp diệt khổ mà ngài đã mất bao nhiêu năm tìm kiếm. Họ hiểu, chấp nhận và đã sẵn sàng hành đạo. Cuối cùng, tất cả đều xuất gia, trở thành các nam nữ tín đồ tu tại gia (Upasok và Upasika). Về phần vua Tịnh Phạn, vì ngài hiểu về đạo diệt khổ khá sâu sắc nên ngài đã đắc quả Anakhamiphol (quả thánh thứ hai - Tu đà hàm), còn bà dì mẫu thì đắc quả Sotapattiphol (quả thánh thứ nhất - Tu đà huờn).

Sau đó, đức Phật đến tế độ cho vợ. Từ ngày thái tử rời bỏ hoàng cung, nàng vô cùng thất vọng, buồn bã, sinh ra ốm yếu. Bởi vậy, nghe lời đức vua, hoàng hậu nằm nghỉ trong cung thất. Nàng thậm chí còn không đủ sức để rời khỏi phòng như những người khác để đi nghênh đón đức Phật. Khi vào phòng hoàng hậu, đức Phật liền thuyết pháp độ cho nàng và giảng cho nàng hiểu về ân đức và tấm lòng thủy chung của nàng trong những kiếp sống trước. Hoàng hậu đã hiểu ra Sacca Dhamma và chứng ngay Tu đà huờn. Về phần thái tử La Hầu La, khi ấy mới lên bảy tuổi nhưng vẫn được đức Phật nhận vào tăng đoàn và được đại đức làm lễ sắc phong thành sư tiểu. La Hầu La là sư tiểu đầu tiên trong Phật giáo. Việc này đã trở thành một trong những nguyên tắc của nhà Phật, đó là những ai muốn xuất gia làm sư tiểu thì phải bảy tuổi trở lên.

Kể từ ngày đắc đạo, đây là lần đầu tiên đức Phật trở về thành Vương Xá. Vua Tịnh Phạn đã nghênh đón đức Phật và mang theo bát khất thực vào cung để tế độ cho các ưu bà tái và ưu bà di. Trong cung cũng đang tổ chức lễ thành hôn cho thái tử Nandha, em cùng cha khác mẹ của đức Phật. Vua Tịnh Phạn có ý định truyền ngôi cho thái tử Nandha ngay sau lễ cưới. Sau khi thọ thực, đức Phật liền trao bát khất thực của ngài cho thái tử Nandha. Thái tử Nandha vui vẻ nhận lấy chiếc bát và nghĩ bụng khi đức Phật ra đến cổng, chàng sẽ gửi lại bát cho ngài rồi trở lại. Nhưng điều đó không xảy ra. Khi đến cổng, đức Phật vẫn tiếp tục đi, không ngoái đầu nhìn lại. Nandha đành theo sau đức Phật cho tới khi ngài ngự về chùa. Thái tử toan trao lại bát cho đức Phật thì ngài liền hỏi chàng có muốn xuất gia làm tăng không. Thái tử không thể từ chối vì chàng không muốn làm đức Phật thất vọng. Chàng nghĩ bụng sau hai hoặc ba ngày nữa thì mọi việc đâu sẽ lại vào đấy, bởi vậy chàng chấp thuận. Sau khi xuất gia, mọi việc diễn ra không như chàng nghĩ. Thái tử mất ăn mất ngủ, trong dạ lúc nào cũng bồn chồn lo lắng. Chàng không nguôi nghĩ về vị hôn thê của mình.

Biết được những tâm tư suy nghĩ của đức Nandha, đức Phật có ý muốn đưa Nandha lên thượng giới cho dứt hẳn mọi khổ đau. Đức Nandha sau khi xuất gia, tâm không tại đạo, không thiết chuyện tu hành, trong đầu chỉ nghĩ đến việc hoàn tục. Đức Phật liền đưa đức Nandha lên thăm thượng giới. Dọc đường đi, đức Phật chỉ cho Nandha thấy một con khỉ cái, trên tai đầy vết sứt sẹo thâm tím, đang ngồi trên một gốc cây cháy đen. Khắp người nó phủ đầy tro bụi.
Khi lên đến thượng giới, đức Phật lại chỉ cho Nandha các tiên nữ xinh đẹp tuyệt trần, vẻ đẹp của các nàng dưới hạ giới không thể sánh kịp. Đức Phật bảo Nandha thử so sánh vẻ đẹp của các tiên nữ với vị hôn thê của mình, đức Nandha liền trả lời rằng sắc đẹp của nàng chỉ có thể so với con khỉ vừa gặp. Nhân đà này, đức Phật mới giảng giải cho đức Nandha về vẻ đẹp của tâm hồn. Lý do chính khiến con người mê mẩn trước một vẻ đẹp ngay lúc ban đầu đó là vì anh ta chưa bao giờ nhìn thấy ai đẹp hơn thế. Nhưng một khi nhìn thấy cái gì khác đẹp hơn, lập tức anh ta sẽ cho rằng cái sau đẹp hơn cái trước bội phần. Đây là một quá trình không bao giờ có điểm dừng. Khi đức Phật hỏi đức Nandha có thích các tiên nữ không, Nandha không ngần ngại đáp luôn rằng có. Nghe xong, đức Phật liền khuyên nhủ Nandha nên tập thiền tu tất sẽ được như ý. Khi trở về hạ giới, đức Nandha bắt đầu chăm chỉ khổ luyện, cuối cùng cũng được đắc quả A la hán.

Như vậy, không chỉ có La Hầu La xuất gia trở thành sư tiểu đầu tiên của nhà Phật, đức Phật cũng đã truyền thụ giới cho thái tử Nandha (sau này là Tôn giả Anonh), người em cùng cha khác mẹ của ngài. Trước khi xuất gia, tất cả đều biết rằng thái tử đang trong lễ thành hôn của mình. Biết được tin này, ngay sau khi khất thực xong, đức Phật liền đến cung điện của thái tử Nandha, trao cho chàng chiếc bát để chàng mang theo về Tịnh xá nơi Ngài đang ngự. Thái tử Nandha vừa tới Tịnh xá, đức Phật ngay lập tức để thái tử xuất gia và đưa chàng lên thăm thượng giới để chàng được tĩnh tâm trở lại. Vua Tịnh Phạn, ngay sau khi nghe tin La Hầu La và thái tử Nandha xuất gia vô cùng tức giận. Đức vua liền đến hầu Phật mà thỉnh cầu rằng "Phải được sự ưng thuận của cha mẹ thì con cái mới được phép xuất gia." Bởi vậy, kể từ đó cho đến nay, "con cái muốn xuất gia phải được cha mẹ đồng ý, tương tự, một người đã có gia đình muốn xuất gia cũng phải được người chồng hay vợ của mình đồng ý."
Ngoài thái tử Nadha và La Hầu La xuất gia, rất nhiều thái tử trong dòng tộc Thích ca cũng đi theo đức Phật đến khu Anupiya Umphavan xin được xuất gia, trong đó có thái tử Bhandhiya, thái tử Anuroutdha, thái tử Bhakkhu, thái tử Kimbhila và thái tử Devadhat. Ngoài ra còn có một thợ cắt tóc tên là Ubaly và rất nhiều thanh niên theo đức Phật xuất gia.
Đức Phật trở về thành Vương Xá và ngự tại Tịnh xá Trúc lâm. Một hôm, có một nhà buôn giàu có tên là Anadhapinatika đến buôn bán tại thành Vương Xá. Tại đây, nhà buôn này đã có cơ hội được nghe giáo pháp của đức Phật và đã lĩnh hội được ngay những chân lý vi diệu. Ông liền mời đức Phật ghé thăm thành Sarvatthy. Về phần mình, nhà buôn đã dùng tiền vàng dâng lên đức Phật để mua lại một khu đất của nhà vua Setakumal và xây ở đây một Tịnh xá lấy tên là Setavanna (Kỳ viên). Ông đã mời đức Phật cùng chúng đệ tử về ngự tai đây. Tịnh Xá Kỳ Viên là nơi đức Phật ngự lại lâu nhất (khoảng 19 năm) trong số những nơi mà Ngài đã từng ngự lại.

Đã được năm năm kể từ ngày đức Phật về thăm thành Ka Tỳ La Vệ. Trong suốt hạ thứ 5, đức Phật ngự tại tư thất Kutakharasala trong rừng Mahavanna của thành Vesaly, vương quốc Vassy. Khi đang nhập hạ, đức Phật nghe tin phụ vương ngài, đức vua Tịnh Phạn, đang lâm trọng bệnh, ngài lập tức cùng các môn đệ trở về thành Ka Tỳ La Vệ. Ngay trong ngày đầu tiên về đến thành, đức Phật vội vàng đến trình diện phụ vương. Được gặp lại đứa con trai yêu quý nhất, đức vua thấy bệnh tình trong người như thuyên giảm. Ngài liền nói với đức Phật "Con đến vừa kịp lúc cứu lấy cuộc đời ta". Đức Phật tìm mọi cách để kéo dài sự sống cho phụ vương thêm 7 ngày, và trong suốt khoảng thời gian đó, ngài dành thời gian thuyết pháp cho đức vua. Đến ngày thứ 7, đức vua đã đắc quả A la hán, sau đó ngài từ từ qua đời.

Sau khi vua Tịnh Phạn qua đời, hoàng hậu Pasabody Gotamy, người đã nuôi dưỡng đức Phật như con ruột của mình, không còn muốn sống cuộc sống trần tục nữa. Bà hết sức đau buồn vì cái chết của đức vua nên chỉ mong được xuất gia, ngày đêm hầu cận bên đức Phật. Hoàng hậu Gotamy và rất nhiều phụ nữ khác trong cung đều nguyện đi theo đức Phật và xin được xuất gia tu hành để có thể luyện tập Brommacan .

Hoàng hậu Maha Pasabody đã ba lần cầu xin đức Phật được xuất gia nhưng ngài đều từ chối. Đức Phật khuyên bà đừng cầu xin thêm nữa. Hoàng hậu Maha Pasabody và các phụ nữ trong cung rất lấy làm buồn phiền, thất vọng, khóc lóc không thôi.

Sau lễ an táng vua Tịnh Phạn, đức Phật trở lại khu rừng Mahavanna ở thành Vesaly. Hoàng hậu Maha Pasabody xuống tóc, mặc y vàng, cùng công chúa và rất nhiều phụ nữ khác rời khỏi cung thành, đi bộ đến nơi Phật ngự. Họ không thể đi nhanh được vì đi bộ, lại đi chân đất nên chân bị sưng phồng hết cả, nhưng cuối cùng họ vẫn gắng sức đến được nơi Phật ngự. Các bà kiên quyết xin được xuất gia làm Bikkhuni (tỳ kheo ni).

Sau khi hoàng hậu Maha Pasabody cùng công chúa Sakiyani đến nơi đức Phật ngự, họ đã kiệt sức sau một quãng đường dài. Tất cả đều đi chân trần, điều mà họ chưa từng làm trong đời. Với bàn chân sưng phồng vì đau nhức, quần áo bám đầy bụi bẩn, các bà đứng ngoài Tịnh xá, nhất quyết đòi sự công bằng cho phụ nữ. Tôn giả Anonh được cử ra ngoài tiếp kiến. Ngài hỏi nguyên do khiến họ buồn bã đau khổ, thân hình thì tiều tuỵ. Hoàng hậu mới đáp rằng họ hành xác là để tìm kiếm sự công bằng cho phái nữ và để trình bày tâm nguyện muốn được xuất gia trở thành môn đệ nhà Phật như nam giới.

Tôn giả Anonh động lòng trắc ẩn, hứa sẽ thay mặt các bà vào xin với đức Phật cho phép các bà xuất gia tu hành. Ngài vào hầu Phật, thay mặt các bà cầu xin như đã hứa, nhưng đức Phật cũng không chấp nhận và còn nói rằng "Anonh này, ngươi đừng cầu xin ta thêm nữa". Nhưng Tôn giả Anonh vẫn nhất nhất không chịu thôi.

Tôn giả Anonh liên tục cầu xin đức Phật tới hai, ba lần, nhưng lần nào cũng đều bị từ chối. Tôn giả Anonh tự nhủ rằng nếu cầu xin trực tiếp, đức Phật không khi nào bằng lòng, nhưng nếu gián tiếp thỉnh cầu có lẽ sẽ được. Nghĩ vậy Ngài liền thưa với đức Phật rằng nếu phụ nữ rời bỏ gia đình xuất gia trở thành tăng ni và tu học theo pháp giáo của đức Phật thì họ có thể đắc quả A La Hán và lên cõi Niết bàn không. Đức Phật trả lời rằng nếu phụ nữ đã rời bỏ gia đình trở thành tăng ni và nghiêm khắc học theo giáo pháp thì họ cũng có thể đắc quả A la hán và lên cõi Niết bàn ngay trong kiếp sống này.

Nghe những điều mà đức Phật nói, Tôn giả Anonh mới bạch rằng nếu phụ nữ có thể đắc đạo, vậy xin đức Phật mở lòng từ bi cho hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy, người đã có ơn lớn với đức Phật, được xuất gia. Bà là di mẫu của đức Phật và cũng là người chăm sóc nuôi dưỡng ngài sau khi Phật mẫu qua đời. Cầu xin đức Phật cho phép bà được xuất gia, được hành đạo ( brommacan ) như các vị tỳ khưu để bà có thể chứng ngộ Pháp đế (Sacca Dhamma) mà ngài đã truyền bá cho chúng sinh trên khắp thế gian.
Những cố gắng của Tôn giả Anonh đã thành công
Đức Phật mới dạy Anonh rằng "Phụ nữ nói chung bản tính mềm yếu, dễ xúc động. Bởi vậy, họ phải chấp nhận thực hiện theo tám trọng pháp, gọi là Garu Dhamma dưới đây:
The Eight Dhamma Precepts
Nếu thái hậu đồng ý tuân thủ tám trọng pháp, ba trăm và mười một huấn pháp và hành theo ba trăm và mười một giới luật đối với tỳ khưu ni suốt đời thì có thể trở thành tỳ khưu ni thực thụ. Điều này diễn ra trong Phật giáo và tại thời điểm này chưa có bất kỳ tỳ khưu ni nào.

Sau khi đức Phật chấp thuận cho giới nữ xuất gia, Tôn giả Anonh liền trở ra ngoài gặp hoàng hậu và công chúa Sakiyani. Nghe xong tám trọng pháp, hoàng hậu hết sức biết ơn Tôn giả và nói rằng: "Thưa Tôn giả Anonh, lẽ thường đôi lứa lúc yêu nhau, khi tắm rửa trang điểm xong, họ đều thích cài hoa lên đầu. Cũng ví như tôi đây, trân trọng tám điều mà Đức Phật đề ra, xin tuân thủ đến trọn đời." Từ đây, nhà Phật có thêm tỳ khưu ni cùng với ba trăm hai mươi giới luật.
Có được lời hứa của thái hậu Maha Pasabody Gotamy và công chúa Sakiyani, Tôn giả Anonh trở lại hầu Phật, thuật lại mọi việc và thưa rằng hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy và công chúa Sakiyani rất vui lòng chấp thuận tám trọng pháp do đức Phật đề ra và bởi vậy tất cả các bà đều trở thành tỳ khưu ni thực thụ. Đức Phật mới dạy Tôn giả Anonh rằng "Này Anonh, giáo pháp mà các tỳ khưu ni chấp thuận học theo đến trọn đời sẽ không thể tồn tại lâu dài. Trong gia đình nào có nhiều phụ nữ hơn nam giới, họ sẽ khó mà đủ sức chống cự khi có cướp vào nhà. Điều này cũng giống việc khi phụ nữ xuất gia theo giáo pháp nào thì giáo pháp đó khó mà tồn tại lâu dài được." Thái hậu Maha Pasabody Gotamy, sau khi chấp thuận tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt, đã trở thành tỳ khưu ni đầu tiên của Phật giáo. Kể từ lúc ấy, Phật giáo có đủ tứ chúng là tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tái (nam tín đồ tu tại gia), ưu bà di (nữ tín đồ tu tại gia). Khi thái hậu Maha Pasabody Gotamy xuất gia, dân chúng thành Ka tỳ la vệ đã thỉnh cầu thái tử Mahanama, con trai đức vua Amitodhamma đứng lên trị vì vương quốc sau khi đức vua Tịnh Phạn qua đời. Về phần công chúa Gia Du Đà La, bà cũng xin xuất gia thành tỳ khưu ni vào hạ thứ năm của đức Phật.
Hạ thứ sáu
Đức Phật nhập hạ tại thành Banpot. Nơi đây, đức Phật đã thuyết pháp và chinh phục được chư Thiên và yêu ma khiến chúng phải ngưỡng mộ và đặt niềm tin vào Phật giáo.
Hạ thứ bảy
Vào ngày rằm tháng Tám, từ thành Thất La Phiệt (Savatdhy), đức Phật đã dùng phép thần thông ngự lên cõi trời Đạo Lợi (Davadingsa) nhập hạ, và thuyết bộ pháp thứ bảy là Abhidhamma (Vi diệu pháp) tế độ cho Phật mẫu. Thiên vương Đế Thích (Indra), Chư Thiên (Bhromma), các thần và nữ thần khác cũng từ cõi trời Đâu suất (Dussita) ngự xuống để nghe đức Phật giảng đạo. Khi hạ thứ bảy kết thúc, đức Phật liền bay xuống trần gian và ngự tại thành Sangkassa. Ngày đức Phật giáng trần gọi là ngày Devorohanna vì trong ngày đó, nhờ có đức Phật dùng phép nên dân chúng mới được tận mắt thấy Thiên vương Đế Thích (Indra), chư Thiên và các vị thần, thấy thượng giới, địa ngục cùng thế giới của Garuda (Ca lâu la) và Naga (Long). Điều này giải thích tại sao con người lại biết đến sự tồn tại của các vị thần này cũng như thế giới của Garuda, Naga và địa ngục.
Hạ thứ tám
Đức Phật nhập hạ ở Phesakala Mikkhadhayavan tại khu rừng ở ngoại thành Soungsoumalkhira. Nơi đây là lãnh địa của đức vua Phodhirath Kumal, con trai đức vua Oudhen. Đức phật đã thuyết pháp về vô lượng kiếp sống trước đây của ngài cho đến ngày chuyển pháp luân lần đầu tiên.
Hạ thứ chín
Đức Phật chấp nhận lời mời của cự phú Gosoka đến nhập hạ tại đền Gosidharam trong thành Gosamphy do ông xây dựng. Đức vua Oudhen trị vì thành này. Trong lần thuyết pháp thứ chín, đức Phật đã tế độ cho công chúa Magandhiya, kẻ đã thuê người xỉ nhục, nguyền rủa đức Phật và cho người đốt cháy tư dinh của công chúa Samavady khiến nàng bị thiêu cháy trong đống lửa. Theo luật nghiệp báo, công chúa Magandhiya cũng đã bị hành quyết.
Hạ thứ mười
Trong thời gian này, chư Tăng ở thành Gosamphy xảy ra xích mích và chia thành hai phe, phe thứ nhất theo đức Vinaythorn, phe thứ hai theo đức Dhammathorn. Ngài khuyên chư Tăng đừng gây gổ, nhưng cả hai đều không nghe lời, vẫn không ngừng cãi vã nhau. Điều này khiến đức Phật hết sức đau buồn nên đã rời đến làng Parilolayaka, ngự trong hốc cây Vô ưu ở khu rừng Rakkittavana và thuyết pháp. Nơi đây, đức Phật đã được con bạch tượng Parilayaka chăm sóc rất chu đáo.
Hạ thứ mười một
Đức Phật nhập hạ tại nhà của một Bà la môn tên là Ekkamala sống ở vùng nông thôn Dhakkhinakhiri. Tại đây, ngài đã thuyết pháp bài kinh Kasibharadhavasa để tế độ cho một người nông dân tên là Kasibharadhavasa.
Hạ thứ mười hai
Đức Phật nhập hạ dưới một cái cây ở Pucimutdhapeuk, gần thành Verasa. Trong lần nhập hạ này, Ngài đã đề ra giới luật đối với tỳ khưu.
Hạ thứ mười ba
Đức Phật nhập hạ tại Cariyabanphot và được đức Mekhiya chăm sóc. Đức Phật đã tế độ cho đức Kekhiya bằng kinh Mekhiya cho đến khi đắc quả A la hán.
Hạ thứ mười bốn
Đức Phật nhập hạ ở tịnh xá Settavanna Maha. Tại đây, sư tiểu La hầu đã được phong làm tỳ khưu.
Hạ thứ mười lăm
Đức Phật đến Nikhodharam gần thành Ka tỳ la vệ để thuyết pháp. Tại đây, đức vua Thiện Giác (Souppaput) đã ra lệnh chặn tất cả các ngả đường để đức Phật không thể đi qua.
Hạ thứ mười sáu
Đức Phật ngự tại thành Avaly ở Akkharavajedy. Tại đây, Ngài đã tế độ cho một nhóm Saravokyaksa (dạ xoa). Trong hạ này, đức Phật đã thuyết các bài pháp như Aravok Sutra, Nikkhan Sutra, Hatthaka Sutra và Vankhysa Sutra.
Hạ thứ mười bảy
Đức Phật ngự tại thành Vương Xá
Hạ thứ mười tám
Đức Phật nhập hạ ở Cariyabanhpot. Tại đây, Ngài đã thuyết pháp cho con gái của một người thợ dệt thành Aravy và cô gái này đã đắc quả Tu đà hườn.
Hạ thứ mười chín
Đức Phật tiếp tục thuyết pháp ở Cariyabanphot.
Hạ thứ hai mươi
Đức Phật nhập hạ ở thành Vương Xá và đã phong cho Tôn giả Anonh là đệ tử hầu cận . Trong khi ngự tại đây, đức Phật đã thuyết pháp Sacca Dhamma độ Ongkulimal, ông này đã đắc quả và xin được xuất gia cửa Phật.
Hạ thứ 21-34
Đức Phật ngự tại Tịnh xá Kỳ Viên (Settavanna) và Bupharama ở thành Thất La Phiệt (Savatdhy). Lúc này đức Devadhat đang âm mưu phá hoà hợp Tăng, chia rẽ nội bộ.

Vì những đóng góp to lớn cho nhà Phật và lòng tôn kính tột bực đối với đức Phật nên Tôn giả Anonh đã được chọn làm đệ tử đệ tử hầu cận của Phật ở tuổi 55. Đức Phật còn có một người em họ nữa cũng xuất gia cùng ngày với Tôn giả Anonh, nhưng tính tình lại trái ngược hoàn toàn với Anonh. Đó là Devadhat. Trước đây khi còn nhỏ, thái tử Tất Đạt Đa và thái tử Devadhat đã đôi ba lần đụng độ, lần thứ nhất là giành nhau một con thiên nga và lần thứ hai là đọ tài cao thấp để cưới nàng Gia Du Đà La. Tính tình của Devadhat rất ưa ganh tị, lúc nào cũng muốn đối đầu với đức Phật. Trong đầu y luôn mưu toan chuyện chia rẽ Tăng chúng thành hai phe để có thể đứng đầu một phe. Thật đúng là "gieo nhân nào thì gặp quả ấy."

Devadhat luôn nghĩ rằng mình rất đáng được trọng vọng vì dù sao cũng là một vị thái tử thuộc dòng tộc Thích ca. Bởi vậy, y rất thất vọng và căm tức khi đại đức Mokkhanla và Salybouth mặc dù không xuất thân từ hoàng tộc nhưng vẫn được phong là những đệ tử ưu tú. Do lòng đố kị như vậy nên Devadhat đã lén ra khỏi Tịnh xá đến thành Vương Xá hòng tạo mối thân tình với thái tử Asartsattrou, con trai đức vua Tần Bà Sa La. Sau khi giương oai bằng mấy phép thần thông, y ngay lập tức đã chiếm được lòng tin của thái tử Asartsattrou và sau đó, được thái tử dâng tặng một ngôi đền rất đẹp. Đúng như câu nói "Tài giỏi mấy cũng chưa chắc cứu giúp được bản thân, bởi vậy con người không bao giờ được phép nghĩ mình giỏi hơn người khác mà tỏ ra khinh thường người khác, phải luôn luôn ý thức rõ về bản thân, ấy mới là người khôn".

Khi đức Phật trở về thành Vương Xá và ngự tại Tịnh xá Trúc Lâm, Devadhat đã xin đức Phật được tách ra để thành lập một Tăng đoàn khác. Đức Phật liền từ chối và chỉ ra những hậu hoạ của hành động này. Nhưng Devadhat rất tự tin vào bản thân mình và vẫn quyết tâm tiến hành việc chia tách bất chấp sự từ chối của đức Phật. Devadhat được thái tử Asartsatrou hậu thuẫn mạnh mẽ, nhưng đức vua Tần Bà Sa La lại phản đối gay gắt. Ngài không muốn kết giao với hạng người như Devadhat mà vẫn một lòng ủng hộ và tôn kính đức Phật. Bị đức vua Tần Bà Sa La từ chối thẳng thừng, Devadhat bèn âm mưu mượn bàn tay của thái tử Asartsattrou hòng giết hại ngài. “Gieo gió thì gặt bão. Thời gian sẽ trả lời”.

Devadhat dùng mọi thủ đoạn hòng chiếm lấy niềm tin của thái tử Asartsattrou, và y đã thành công. Devadhat từ từ xúi bẩy thái tử Asartsattrou hành thích cha mình để chiếm lấy ngôi vua, có như vậy âm mưu thiết lập một Tăng đoàn khác của hắn mới thành công. Thái tử Asartsattrou đồng ý ngay, không hề ngần ngại. Y đã dấy quân phản loạn chống lại cha mình, rồi bắt giam ngài vào ngục và tự xưng hoàng đế. Vua Tần bà sa la bị tống vào ngục, phải chịu nhiều kiểu cực hình như bị bỏ đói, bấm móng tay vào đùi cho đến chết. Cuộc nổi loạn diễn ra vào hạ thứ 37 của đức Phật. Đúng như câu nói xa xưa: “Thành tâm cúng bái thì sẽ được hưởng hạnh phúc, an tịnh, nhưng ngược lại, nếu cúng bái với ý định toan tính trục lợi thì sẽ phải chịu khổ đau đến hết đời”.

Vậy là Devadhat đã có đủ mọi điều kiện cần thiết để thành lập Tăng đoàn khác. Y đã có được hậu thuẫn mù quáng từ vị vua mới. Devadhat gợi ý vị vua trẻ này thuê một số tên xạ thủ thật giỏi đi mưu sát đức Phật. Mọi việc đã được sắp xếp đâu vào đấy, nhưng khi những tên xạ thủ tận mắt chứng kiến cảnh tượng đức Phật giảng đạo thì không ai bảo ai đều chạy ra khỏi chỗ nấp, quỳ trước đức Phật mà thuật hết mọi chuyện. Vì chúng không biết sự thật nên Ngài đã xá tội và bảo chúng hãy qui y Phật, từ bỏ việc xấu. Một câu tục ngữ trong tiếng Phạn nói rằng “Dhamma chinh phục được Adhamma, Dhamma là nguồn gốc của mọi niềm hạnh phúc, đối với tất cả mọi người”

Âm mưu ám sát đức Phật không thành vì những tên thích khách nửa chừng quay ra phản bội và đem hết sự tình kể với đức Phật. Sau sự việc này, Devadhat không nghĩ đến chuyện thuê sát thủ nữa, thay vào đó y sẽ tự mình sát hại Đức Phật. Y quyết định chờ đến tối, rình nấp ngay chân núi, trên đường đức Phật sẽ đi qua rồi thừa cơ hạ sát. Hôm đó, đức Phật đang đi bộ về tịnh xá, không hề lường trước những nguy hiểm đang chờ trước mắt. Devadhat đang nấp ở phía trên cao, lập tức chớp lấy cơ hội. Bất thình lình, hắn đẩy một tảng đá lớn về phía đức Phật, may mắn thay, tảng đá đó lại vỡ vụn ra, một viên nhỏ rơi trúng chân của đức Phật làm xây xước nhẹ. Ngoài ra không có xây sát gì thêm. Đức Phật gắng hết sức trở về Tịnh xá một cách an toàn và được một thần y tên là Sivokkomarapat chữa trị. “Nếu một người vì hạnh phúc của mình có ý định cướp đi mạng sống của người khác thì đó là hạnh động của kẻ ác tâm, không biết liêm sỉ, là hành động của một con ác thú. Những người khôn ngoan, có từ tâm không khi nào làm những chuyện như vậy.”

Âm mưu ám sát đức Phật lần thứ hai thất bại, nhưng Devadhat vẫn không từ bỏ ý định. Lần này, y có ý định sẽ dùng voi Naragiling đang trong giai đoạn động đực làm công cụ. Y sẽ thả xổng con voi khi đức Phật đi khất thực ngang qua. Mọi việc đã sẵn sàng. Hôm đó, khi đức Phật đang khất thực ở trong thành, Devadhat liền thả voi ra. Con voi tỏ vẻ rất hung hăng dữ tợn, xông thẳng tới đức Phật. Nhưng khi voi trông thấy đức Phật, bỗng dừng ngay lại, từ từ bước tới, ngoan ngoãn quì trước đấng từ bi. Một lần nữa, kế hoạch lại thất bại, Devadhat đành đau đớn từ bỏ kế hoạch ám sát đức Phật, nhưng y vẫn cố nhen nhóm mâu thuẫn trong Tăng chúng.

Devadhat luôn cho rằng mình luyện tập đạo pháp chăm chỉ hơn cả đức Phật nên đã xin được vào vấn an đức Phật và vờ như chưa có chuyện gì xảy ra. Devadhat cầu xin đức Phật hãy định ra các điều luật cấm dành cho chư vị tỳ khưu giống như các giáo phái khác. Chẳng hạn như tỳ khưu không nên sống trong nhà có mái che mà nên sống trong rừng, dưới gốc cây hoặc ngoài trời, không nên ăn động vật các loại, mà chỉ nên ăn các loại ngũ cốc và rau quả. Đức Phật đã từ chối lời đề nghị này của Devadhat.

Đức Phật từ chối lời đề nghị của Devadhat trước các môn đệ và nói “Này các tỳ khưu, vị nào thích cư ngụ trong rừng, dưới gốc cây hay ở ngoài trời thì cứ ở. Nói cách khác, tỳ khưu nào thích ở trong nhà thì cứ ở.” Về những vấn đề khác, đức Phật cũng dạy như vậy. Chẳng hạn, tỳ khưu nào thích khất thực thì cứ khất thực, thích mặc y vàng lượm từ vải rách hay vải ngoài nghĩa địa cứ mặc, muốn ăn ngũ cốc chứ không ăn động vật thì cứ ăn. Nhưng ngược lại, vị nào không muốn làm theo thì cứ việc làm theo cách của họ. Sau đó, Ngài nhắc nhở Devadhat hãy thôi ngay ý định chia rẽ tăng chúng nếu không sẽ gặp hoạ. Những điều này đã được ghi lại trong luật giới đối với các tỳ khưu ở Parasika thứ tư .

Devadhat không chịu nghe lời khuyên giải của đức Phật. Y tức giận ra về rồi sau đó dụ dỗ một số tỳ khưu theo y đến một vùng quê thành lập Tăng đoàn khác và tự xưng là Trưởng phái. Được biết về những việc mà Devadhat đã làm đức Phật liền phái đại đức Salybouth đến nơi cư ngụ của Devadhat để thuật hết sự tình cho các vị tỳ khưu đó. Đại đức nghe lời đến chỗ của Devadhat, đúng lúc y đang nằm nghỉ. Đại đức liền thuật lại thực ý của đức Phật và kể rõ những hành động xấu xa trước đây của Devadhat cho các vị tỳ khưu nghe. Cuối cùng tất cả các vị tỳ khưu này đã theo đức Salybouth trở về với Chính pháp. Vậy là ý định thành lập Tăng đoàn khác của Devadhat đã không thành.

Khi Devadhat thức giấc, y nhận thấy xung quanh quá tĩnh lặng, không thấy bóng dáng một vị tỳ khưu nào từng theo y trước đây. Ngay lập tức y hiểu ra rằng chính đại đức Salybouth đã đến nơi đây và tìm cách lôi kéo các vị tỳ khưu trở về với đức Phật. Devadhat giận điên người chỉ muốn trả thù, nhưng vì sức lực đã yếu dần nên y phải nhờ hai tên đồ đệ khiêng hắn bằng cáng đến Tịnh xá nơi đức Phật đang ngự để hỏi cho ra nhẽ về số tỳ khưu đã bỏ hắn trở về cùng với đại đức Salybouth. Trên đường đến gặp đức Phật, vì những hành động xấu xa trong quá khứ cùng với âm mưu gây chia rẽ tăng chúng, Devadhat đã bị lún chìm xuống vùng cát lún.

Khi các môn đệ hay tin Devadhat đang trên đường đến gặp đức Phật, họ rất lo sợ cho an nguy của đức Phật, bèn cầu xin ngài hãy tạm tránh mặt. Nhưng đức Phật không hề lo sợ và bảo với các môn đệ rằng không bao giờ Devadhat có thể làm hại được đức Phật. Quả nhiên những điều mà đức Phật nói đều đúng cả vì sau đó họ được biết rằng Devadhat đã chết trên đường đến nơi Phật ngự. Cái chết của Devadhat khó có thể tưởng tượng nổi. Chiếc cáng mà hắn nằm đã bị cát lún nhấn chìm. Sau khi Devadhat chết, không còn cảnh xích mích phân chia bè phái trong tăng chúng nữa. Đó cũng là nhờ tấm lòng nhân hậu và Ba la mật mà đức Phật đã tu tích trong quá khứ nên ngài có thể khuất khục được cái ác.

Trong suốt 45 hạ, đức Phật đã giảng đạo và tế độ chúng sinh mà không hề nghỉ ngơi cho đến khi ngài nhập Niết bàn. Đức Phật đi tế độ chúng sinh trên khắp cõi Ấn Độ chỉ trên đôi chân trần mà không bao giờ dùng đến một loại phương tiện nào cho dù quãng đường có xa đến mấy, và sống bằng khất thực. Điều này cho thấy đức Phật phải gánh một trọng trách trên vai là cứu giúp ba phần tư chúng sinh trên khắp cõi thế gian thoát khỏi khổ đau, và ngài thấy hài lòng với những gì đã làm. Có thể tóm tắt những thành tựu mà đức Phật đã làm được trong 45 hạ: thứ nhất, ngài đã thu nạp được các Trưởng phái của một số giáo phái, chẳng hạn như ba anh em phái Satil (ngài đã mất đến hơn hai tháng mới quy phục được Kassapa); thứ hai, ngài đã thuyết pháp cho đức vua Tần Bà Sa La, người trị vì vương quốc Ma Kiệt Đà (Makkhadha), là một trong những đức vua nắm trong tay nhiều quyền lực nhất khu vực lúc bấy giờ. Sự tin tưởng mà các quốc vương và những trưởng phái dành cho đức Phật đã chứng tỏ rằng thời ấy, Phật giáo đã lan nhanh trong xứ Ma Kiệt Đà, lấn át hẳn đạo Bà La Môn. Một khi các trưởng phái đi theo đạo Phật giáo thì lẽ dĩ nhiên các môn đệ của giáo phái đó cũng đi theo.

Sau khi sinh thái tử Tất Đạt Đa, phật mẫu Si ri Maha Mada đã qua đời và được tái sinh tại cõi trời Đạo Lợi. Đức Phật đã sử dụng phép thần thông bay lên cõi trời nhập hạ. Ngài ngự trên bảo toạ bằng đá, trên phủ thảm đỏ được đặt dưới một gốc cây. Thiên vương Đế Thích (Indra), nghe tin đức Phật sẽ ngự lên cõi Trời, đã thông báo cho Chư Thiên, Phạm Thiên, trong đó có cả phật mẫu Siri Maha Maya, đến nghe ngài thuyết pháp. Các vị trên cõi trời đều hân hoan đến nghe giảng đạo. Trong hạ này, phật mẫu Siri Maha Maya đã đắc quả Tu đà huờn.

Theo truyền thống, dấu chân mà đức Phật để lại khi ngự về cõi nhân gian sau khi thuyết pháp xong ở cõi trời được gọi là dấu chân Phật. Ở một số nơi, người ta còn gọi là “Jom Jedy”. Nói chung cả hai đều được coi là thánh tích quan trọng của đức Phật cho tới ngày nay. Khi đức Phật ngự xuống trần gian, có ba chiếc thang, một cái bằng vàng, một cái bằng bạc, cái còn lại làm bằng pha lê. Chiếc thang bằng vàng dành cho Đế Thích và Chư Thiên, chiếc bằng bạc dành cho Thao Maha Bhromma cùng Chư Thiên. Chiếc thang bằng pha lê dành cho đức Phật. Các thần cùng bước theo đức Phật ngự xuống hạ giới. Ngày này trong đạo Phật được coi là một trong những ngày quan trọng nhất cho đến ngày nay.

Vào thời điểm đức Phật ngự xuống hạ giới, ngài đã dùng phép thần thông liền một lúc mở ra tam giới là Thượng giới, Âm phủ, và Hạ giới cho chúng sinh dưới trần gian được trông thấy tận mắt sự tồn tại của Thiên đình và Âm phủ để biết đường mà tu tích công đức, tránh tạo nghiệp ác. Tuy nhiên, chúng ta đều nên hiểu rằng tích đức và làm việc tốt thì cực kỳ khó còn tạo nghiệp ác thì rất dễ. Điều này làm ta liên tưởng đến một câu nói cổ xưa ngụ ý là “đường lên thượng giới chông gai, đường xuống âm phủ trơn tru vô cùng”
Đã có lúc xảy ra mâu thuẫn trong tăng chúng khiến tăng chúng chia thành hai phe, không phe nào chịu phe nào, và cũng không chịu nghe lời khuyên bảo của đức Phật. Bởi vậy ngài đã quyết định bỏ đi, nhập hạ tại một khu rừng và tế độ cho bạch tượng và khỉ. Khi đức Phật đã bỏ đi, dân chúng thành Kossamby đã không cúng dường cho chư tăng nữa vì họ nghĩ rằng chính sự xích mích trong tăng chúng đã khiến đức Phật phải bỏ đi nhập hạ ở nơi khác. Có một con khỉ trông thấy bạch tượng ngày ngày dâng hoa quả lên đức Phật, nó cũng liền đi lấy một tổ ong mang đến dâng mời ngài. Đức Phật thọ lĩnh tổ ong, nhưng không ăn. Thấy vậy, con khỉ lấy làm ngạc nhiên không hiểu tại sao đức Phật lại không ăn tổ ong của nó. Nó liền xin lại tổ ong, nhặt hết ong non ra khỏi tổ rồi dâng lại cho đức Phật.
Con khỉ trở ra và trèo lên cây quan sát đức Phật. Thấy ngài ăn mật ong, nó vô cùng sung sướng, nhảy từ cành này sang cành khác. Nhưng không may, nó lại bị trượt chân, rơi xuống một thân cây, bị cành nhọn đâm trúng người chết tươi.
Sau khi đức Phật làm lễ ra hạ, tăng chúng mới nhận ra lỗi lầm, họ bèn vào rừng cầu xin đức Phật trở về. Khi đức Phật chuẩn bị rời khỏi rừng, con voi toan đi theo Ngài đến sống trong thành. Nhưng đức Phật bảo voi ở lại vì nó chỉ là một con vật, không thể chung sống cùng người trong thành được. Voi nghe lời ở lại, đứng trông theo cho đến khi đức Phật khuất bóng. Bỗng nhiên, nó bị một cơn đau tim, ngã vật ra rồi chết. Cả voi và khỉ, vì đều có công với đức Phật nên đã được tái sinh thành kiếp khác sống trên cõi trời Đạo Lợi.

Trong suốt mùa mưa, đức Phật thường nhập hạ tại các tịnh xá do phật tử dâng tặng. Đức Phật không khi nào giữ riêng các tịnh xá cho mình mà giao lại cho Tăng chúng. Tịnh xá mà Ngài ưa thích hơn cả là tịnh xá Kỳ Viên, gần thành Vương Xá, do cự phú Anathaphinatikka dâng tặng. Đức Phật đã ngự ở đây tổng cộng là mười chín năm. Tiếp đó là tịnh xá Trúc lâm do vua Tần bà sa la dâng tặng. Đức Phật gần như dành trọn ngày để giảng đạo và mỗi ngày chỉ ngủ một giờ.
Sáng sớm: Ngồi thiền trong một canh giờ
5.00 – 6.00 sáng: Dùng huệ nhãn soi xem có chúng sinh nào cần đến sự giúp đỡ, tế độ của Ngài
6.00 – trưa: Ngự đi khất thực và tế độ chúng sinh. Đôi khi Ngài dẫn theo Tôn giả Anonh cùng đi khất thực. Có nhiều lúc, trong khi đang đi khất thực, ngài được các tín chủ mời đến nhà nhận đồ cúng dường và thuyết pháp tế độ cho các thành viên trong gia đình đó.
Trưa – 6.00 chiều: Thuyết pháp cho các môn đệ muốn thỉnh cầu lời khuyên và chỉ dẫn của Ngài, sau đó nghỉ ngơi, thiền định và đến thăm những người cần sự giúp đỡ của Ngài, tế độ và chỉ cho họ con đường chân chính đến với an vui hạnh phúc.
6.00 – 10.00 tối: Ngự thăm các tín chủ muốn thỉnh cầu lời khuyên, chỉ dẫn của Ngài và muốn được nghe Ngài thuyết pháp.
10.00 – 2.00 sáng: Ngự thăm Chư Thiên, Phạm Thiên, những vị muốn nghe Ngài giảng Pháp mới và thuyết về cách sống chân chính.
2.00 – 4.00 sáng: Đi kinh hành để xả bớt những vất vả, lo lắng trong ngày, rồi sau đó nghỉ ngơi trong một canh giờ.
Nhiệm vụ đi tế độ cho chúng sinh của đức Phật nhiều vô kể, người thường khó mà làm được. Trong suốt bốn mươi nhăm hạ, ngày nào cũng vậy, đức Phật chỉ ngủ có một canh giờ.
Vì lòng từ bi với chúng sinh, mỗi giờ đức Phật lại dùng huệ nhãn soi xem có ai cần đến sự giúp đỡ, Ngài sẽ đến tế độ cho họ, không phân biệt kẻ giàu người nghèo, để họ được sống trong yên vui hạnh phúc.

Phần lớn thời gian đức Phật cùng chư tăng đến thăm các phật tử theo lời thỉnh cầu của họ, nhận đồ bố thí cúng dường rồi thọ thực ngay tại nhà của họ. Sau đó, đức Phật sẽ thuyết pháp và hướng họ sống một cuộc sống đức hạnh, năng làm những việc hữu ích cho kiếp sống hiện tại và cả kiếp sau. Các tín chủ đều lấy làm ngưỡng mộ giáo pháp của ngài, nguyện làm môn đệ nhà Phật và xin được thọ Tam quy là qui y Phật, qui y Pháp và qui y Tăng.

Đôi khi, trong khi chư tăng đang thọ lễ cúng dường, đức Phật sẽ ngự thiền dưới một gốc cây không xa nơi đó. Ngài sẽ chỉ trở lại khi chư tăng đã thọ lĩnh xong. Trong suốt buổi hội họp, đức Phật sẽ cố gắng giải đáp những thắc mắc cá nhân của tăng chúng và khuyên họ nên tu trì giới để đạt được mục đích cuối cùng là lên được cõi Niết bàn.

Thông thường sau mỗi lần giáo huấn, các tỳ khưu sẽ đưa ra những thắc mắc, dựa vào đó, đức Phật sẽ thuyết cho tỳ khưu các bài pháp thích hợp. Đức Phật sẽ phân tích các câu hỏi và chỉ ra những trở ngại đối với riêng tỳ khưu ấy rồi chọn ra một bài pháp phù hợp, dựa vào trình độ tu học của mỗi người để giảng giải cho tỳ khưu ấy hiểu. Sau đó, các tỳ khưu lại tỏa ra mỗi người một nơi tiếp tục tu luyện, có thể là dưới gốc cây, trong hang động hay trong túp lều. Còn đức Phật sẽ ngự về tịnh xá riêng của Ngài.

Trong suốt mùa hè, đức Phật mỗi lúc ngự một nơi ở những vùng lân cận để gặp gỡ những tín đồ muốn nghe Ngài thuyết pháp. Một số ngưòi đến vào buổi sáng, đa số còn lại thường đến vào buổi chiều. Một số đến có mang theo đồ cúng dường, một số đến đơn thuần chỉ để nghe đức Phật giảng đạo. Tất cả các phật tử đều đến nghe đức Phật thuyết pháp với tâm trạng vui sướng hân hoan, không phân biệt giai cấp, trình độ hiểu biết, họ ngồi nghe cho đến khi hiểu được đạo pháp. Nhiều người còn có cảm tưởng rằng bài Pháp của đức Phật đặc biệt hướng về mình , và sau khi nghe giáo pháp, họ đều phát tâm tín thành nơi đức Phật.

Khi các phật tử ra về, đến tối đức Phật sẽ đến một cái hồ nhỏ hay một dòng sông và tắm ở đó. Sau khi tắm xong, đức Phật sẽ ngồi thiền một lúc trước khi đi gặp các môn đệ hiện đang rải rác ở khắp nơi. Tại đó, với mỗi khúc mắc của các tỳ khưu, ngài sẽ đưa ra hướng giải quyết cho đến khi họ thấy thoả mãn.

Khi đức Phật cảm thấy hơi mệt, ngài sẽ ngự thiền ở đâu đó trong tịnh xá để thư giãn. Ngay khi sự mệt mỏi đã giảm bớt, ngài sẽ đến gặp nhanh chư tỳ khưu trước khi tiếp kiến các vị vua chúa và quan lại. Đức Phật sẽ truyền pháp cho các vị này và giải đáp mọi thắc mắc cho đến khi ai nấy đều vui vẻ trở về.

Sau khi thuyết pháp xong, đức Phật thường thư giãn bằng cách hành thiền theo tư thế nằm, còn gọi là nằm thiền theo dáng sư tử. Ngài nằm dài nghiêng về bên phải, hai mũi chân đặt lên nhau, cánh tay trái duỗi thẳng dọc theo cơ thể, tay phải gập ở khuỷu tay, lòng bàn tay đặt phía dưới đầu để có thể tỉnh giấc đúng giờ. Đức Phật sẽ tỉnh giấc vào sáng sớm và lại bắt đầu với một lịch trình thiền định để soi xem trong ngày hôm đó, ai có duyên lành được nghe ngài thuyết pháp. Tựu chung lại đức Phật có tất cả là bốn tư thế thiền.

Trong suốt 45 hạ, đức Phật đã thực hiện bổn phận của mình đều đặn mỗi ngày là đi giảng giải và tế độ cho tất cả chúng sinh. Đức Phật không chỉ giảng đạo mà còn giúp chúng sinh tháo gỡ những khúc mắc trong đời sống hàng ngày nhờ vào kiến thức uyên thâm và trí thông minh tột bực. Việc nào đức Phật cũng đều giải quyết chu đáo. Đức Phật luôn cố gắng làm vừa lòng tất cả chúng sinh mà ngài gặp trên đường đi, không phân biệt cao thấp sang hèn, cho dù đó là nông dân, nhà buôn hay quan lại.

Dường như không có khúc mắc nào đức Phật không đưa ra được hướng giải quyết. Đức Phật chưa bao giờ khiến chúng sinh phải thất vọng ra về. Giọng đức Phât nghe rất ấm áp khi giảng đạo, khiến ai ai cũng cảm thấy hạnh phúc và hài lòng khi tìm đến với ngài. Đôi khi, có một số kẻ ngoại đạo tìm đến gây hiềm khích, nhưng họ đều phải chịu khuất phục trước trí tuệ và kiến thức siêu phàm của đức Phật. Nhiều kẻ trong số họ đã bỏ đạo cũ, xin xuất gia cửa Phật cho đến trọn cuộc đời. “Đạo pháp mang lại hạnh phúc cho mọi người.”

Trong suốt hạ thứ 44, hai đại đồ đệ thân cận nhất của đức Phật là đại đức Mokkhanla và đại đức Salybouth đã nhập Niết bàn. Đức Phật thấy rằng đã đến lúc ngài nhập Diệt. Vào hạ thứ bốn mươi nhăm, đức Phật tròn 80 tuổi. Ngài nghĩ rằng việc truyền dạy Pháp tứ đế đã đến lúc phải kết thúc vì tin rằng ngài không còn tại thế được bao lâu nữa. Đức Phật nhìn về hướng Bắc, dọc theo chân dãy Himmalayan, đây là nơi ngài đã sống khi còn trẻ, nơi ngài tìm kiếm những chân lý cao siêu. Đức Phật cùng với Tôn giả Anonh và các môn đệ rời tịnh xá Trúc lâm, đến một nơi mà ngài đã chọn để nhập Niết bàn.

Trên đường đến nơi nhập diệt, đức Phật đã đi qua rất nhiều làng bản, trong đó có làng Pataribouth (nay là Patna ). Đức Phật đi về hướng bắc, qua thành Vesaly ở xứ Vassy. Khi đến thành Vesaly, có một kỹ nữ tên là Umphapaly muốn dâng tặng một tịnh xá lên đức Phật. Tịnh xá này được xây lên để đối chọi với các thái tử trong thành. Sau đó, đức Phật đã đến làng Veruvakarm ngay gần thành Vesaly và quyết định ngự tạm nơi đây. Ngài biết việc ngự lại nơi đây ý nghĩa hết sức quan trọng.

Trong hạ này, sức khoẻ của đức Phật đã rất suy yếu, tưởng như không thể nhập được Niết bàn. Nhưng sau đó, đức Phật đã hành thiền Cetosa để chế ngự bệnh ấy. Khi đã cảm thấy khoẻ hơn, đức Phật đến ngồi nghỉ ở dưới bóng cây của một tịnh xá, trên một cái nệm mà Tôn giả Anonh đã chuẩn bị sẵn cho Ngài. Tôn giả Anonh đã nhân cơ hội này nói với đức Phật rằng ông cảm thấy vui sướng thế nào khi sức khoẻ đức Phật đang dần hồi phục, rằng khi thấy đức Phật lâm trọng bệnh, tâm trí ông hết sức rối bời, không thể tập trung làm bất cứ điều gì. Nhưng ông tin chắc rằng chừng nào đức Phật vẫn chưa chỉ dạy những quy tắc cư xử cho chư tỳ khưu thì vẫn chưa phải lúc đức Phật nhập Niết bàn.

Đức Phật đã tuyên bố đạo pháp được 45 năm và lúc này đức Phật đã tròn 80 tuổi. Trong hạ thứ 45 tại Verukham, đức Phật cảm thấy không yên tâm về Tôn giả Anonh vì Anonh vẫn chưa đắc quả A la hán. Một hôm, đức Phật dẫn Tôn giả Anonh đến gần một khu rừng và thuyết cho nghe bài kinh “Obhasamnimitta Indhibathsi” (bài kinh này gồm có bốn pháp, bất cứ ai đắc được bốn pháp này đều có thể sống lâu như ý). Mặc dù đức Phật thuyết pháp đến ba lần nhưng Tôn giả Anonh vẫn không thể hiểu ý của Ngài. Đức Phật đành bảo Tôn giả Anonh bước ra khỏi bóng cây. Tôn giả vừa bước lui thì Ma vương bước vào, thỉnh cầu đức Phật hãy nhập Niết bàn. Đức Phật chấp thuận rồi sau đó nói với Tôn giả Anonh rằng trong ba tháng nữa, tại thành Kushinara, vào ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, đức Phật sẽ nhập Niết bàn.

Đức Phật dạy Tôn giả Anonh rằng “Này Anonh, chư tỳ khưu còn trông đợi gì ở ta nữa. Ta đã thuyết rõ ràng mọi luật tạng (Dhamma Vinaya), bao gồm cách ứng xử trong giới tỳ khưu cùng phương pháp tu hành để chư tỳ khưu đắc được các pháp giáo và nhập cõi Niết bàn. Ta không còn giấu giếm một pháp nào mà đã giảng giải cho đệ tử rõ rệt đến tận cùng. Này Anonh, ta đã 80 tuổi, đã già rồi, cuộc sống chỉ còn đếm từng ngày và đã đến lúc ta phải kết thúc mọi chuyện. Chư tỳ khưu hãy nên tự nương nhờ vào bản thân mình chứ không phải ai khác. Hãy coi đạo pháp là “Sarana - điều có thể nương dựa vào” và giữ cho pháp giáo được trong sạch nơi trái tim mà không nhầm lẫn với bất cứ điều gì khác. Chư tỳ khưu nào hành theo đúng đạo pháp thì ắt sẽ đạt được Tuệ và giỏi trội hơn kẻ khác.

Sáng hôm sau, vào ngày rằm tháng Ba năm Tuất, đức Phật thấy trong người đỡ mệt nên lại cầm bát đi khất thực trong thành Vesaly. Buổi trưa, sau khi thọ thực xong, đức Phật bảo Tôn giả Anonh chuẩn bị một chỗ dưới bóng cây gần ngôi đền Pavarajedy để Ngài hành thiền. Đức Phật đã quyết định nhập diệt vào ngày rằm tháng Sáu năm Tuất (Visakha Day), tính từ ngày này là còn đúng ba tháng nữa.

Tôn giả Anonh đôi ba lần cầu xin đức Phật hãy lui lại ngày nhập Niết bàn để có thể tiếp tục tế độ chúng sinh. Đức Phật mới nói “Này Anonh, ta đã tử bỏ Sankhara; những gì ta đã nói, ta sẽ giữ lời. Ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết bàn. Hãy để mọi chuyện trôi đi và đừng nghĩ về nó nữa. Giờ ta sẽ đến rừng Saravanna, còn ngươi hãy tập hợp chư tỳ khưu lại nơi đó”. Tôn giả Anonh liền làm những gì mà đức Phật căn dặn.

Khi chư tỳ khưu đã hội lại đông đủ, để tỏ rõ tấm lòng nhân hậu và sự quan tâm chân thành đối với họ, đức Phật đã khuyên nhủ chư vị tỳ khưu hãy thọ trì Tứ thanh tịnh giới theo đúng pháp mà đức Phật đã đề ra vì lợi ích của chúng sinh trên thế gian và để làm gương tốt cho chúng sinh noi theo. Đức Phật còn dạy “Không có thứ gì trên thế gian này là vĩnh cửu, không có thứ gì trường tồn mãi mãi - Anitca Vatta Sangkhara - chỉ có sự quyết tâm, sự khổ luyện và chính niệm tỉnh giác mới làm người ta thoát khỏi khổ đau và dứt bỏ luân hồi. Nỗi khổ đau của chúng sinh là vô tận, nếu không hiểu được đau khổ thì làm sao mà giải thoát.”

Ngày tiếp theo, đức Phật và Tôn giả Anonh đi khất thực trong thành Vesaly lần cuối cùng. Đức Phật nói với Anonh rằng “Này Anonh, đây sẽ là lần cuối ta ngự tại thành Vesaly, sau đây ta sẽ đến làng Patthakham.” Kể từ hôm đó, Ngài rời thành Vesaly, đi qua rất nhiều làng mạc như làng Huttikham, làng Umphakham, làng Sumphukham, dọc đường đi Ngài vẫn tiếp tục thuyết pháp. Khi đến thành Phokha, đức Phật ngự tại Anandha Jedy và thuyết bài pháp về Mahapatesa thứ tư cho chư tỳ khưu, để cân nhắc việc sử dụng nó như là một công cụ để quyết định về Luật tạng. Ngay trước ngày rằm tháng Sáu (một ngày trước khi thời hạn ba tháng kết thúc), đức Phật đến thành Pava và ngự tại vườn xoài của Nai Jundha, con trai người thợ kim hoàn. Đức Phật đã thuyết pháp cho Nai Jundha và ông ta đã đắc quả Tu đà hườn. Ngày hôm sau, đức Phật đã nhận lời thỉnh mời đến thọ thực (dhana) tại nhà ông ta.

Ngày hôm sau, cũng là ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, đức Phật ngự đến nhà Nai Jundha, đây là lần khất thực cuối cùng. Nai Jundha đã cúng dường đức Phật món heo sữa, và ngài đã thọ thực món ấy. Đức Phật căn dặn chư tỳ khưu không được dùng món heo sữa này. Khi đã thọ thực xong, đức Phật ngự về. Trên đường trở về, đức Phật bị kiết lỵ nặng, ngài phải dùng nội thiền để chế ngự bệnh tật.

Dọc đường đi đến thành Kushinara, thỉnh thoảng đức Phật dừng lại để nghỉ ngơi. Gần tới nơi, đức Phật ngồi nghỉ dưới một gốc cây và đã gặp thái tử Pukkussa. Thái tử Pukkussa trước đây từng là đồ đệ của Hermit Ara, một trong số các sư phụ của đức Phật khi Ngài còn chưa đắc đạo. Thái tử rời khỏi thành Kushinara và đang trên đường đến thành Pava gặp đức Phật. Thái tử cung kính bái lạy đức Phật và được ngài thuyết giáo về Suntivihara nên chứng ngay sơ quả, trở thành đệ tử của Phật. Thái tử đã cúng dường đức Phật hai bộ y phục và ngài đã thọ lĩnh. Đức Phật bận một bộ, bộ còn lại trao cho Tôn giả Anonh. Sau khi vượt qua sông Kadhudhana, đức Phật dừng lại nghỉ một lúc và sau đó đi tiếp về phía sông Hiranyavady của thành Kushinara.

Vào buổi chiều ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, đức Phật cùng chư tỳ khưu đã đến được thành Kushinara. Ngài liền đến thẳng rừng cây Vô ưu ở phía ngoài thành. Đức Phật dặn Tôn giả Anonh dọn một hòn đá đặt giữa hai cây Sara để ngài có thể nằm nghỉ (theo tiếng Phạn, tư thế nằm này gọi là Anuttadhasaiyadha, nghĩa là không bao giờ thức dậy nữa). Khi ấy hai cây Sara trổ đầy bông, lạ ở chỗ là mùa này không phải là mùa Sara nở. Hoa Sara trải khắp người Phật, ngài mới dạy Tôn giả rằng “Này Anonh, mặc dù ta đánh giá cao sự cúng dường này, nhưng đây chưa phải là vật cúng dường cao quý nhất. Ta muốn bốn nhóm môn đệ của nhà Phật là tỳ khưu, tỳ khưu ni, thiện nam, tín nữ hành đúng theo lời răn dạy của ta. Ấy mới là cách cúng dường trọng thể và cung kính hơn cả.”
Khi đức Phật đang trong tư thế nằm, ngài tiếp tục thuyết pháp và chỉ dẫn cho Tôn giả Anonh cách chăm sóc cơ thể đức Phật giống như mọi người vẫn chăm sóc cơ thể của hoàng đế.

Đến lúc này, Tôn giả Anonh mới nhận thấy rằng việc đức Phật nhập Niết bàn là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Bởi vậy, ngài không cầm được nỗi đau buồn. Tôn giả Anonh đã lẻn ra ngoài, đến một bụi cây gần đó và khóc một mình. Tôn giả vô cùng thất vọng bởi ngài vẫn chưa đắc quả A la hán như các vị tỳ khưu khác nên sẽ phải tu luyện một mình mà không có sự chỉ bảo của đức Phật.

Khi đức Phật mở mắt, không thấy Anonh đâu, ngài mới hỏi chư tỳ khưu và được biết rằng Anonh đang rất thất vọng và buồn khổ vì Tôn giả vẫn chưa chứng được Phật pháp cao thâm trong khi đức Phật đã sắp nhập Niết bàn. Đức Phật mới truyền gọi Anonh về.

Khi Tôn giả Anonh trở lại, đức Phật mới khen ngợi Tôn giả Anonh trước mặt chư vị tỳ khưu rằng “Đức Phật trong quá khứ và tương lai đều có được một người hầu cận hết sức tận tụy, nhưng vẫn không thể so sánh được với những gì mà Tôn giả Anonh đã làm trong kiếp sống này. Anonh là đồ đệ hầu cận tốt nhất, thông minh nhất và biết sắp xếp công việc nhất. Anonh biết khi nào là phải lúc cho phép dòng người vào vấn an ta. Anonh luôn niềm nở và tiếp chuyện các vị khách với thái độ chân thành. Tất cả các vị khách đều hài lòng về Tôn giả Anonh và luôn chú ý lắng nghe khi ngài nói. Tôn giả Anonh luôn là người hầu cận thân tín nhất của ta.”

Tôn giả Anonh cầu xin đức Phật thay đổi nơi nhập diệt vì cho đây chỉ là một khu rừng ở một thành nhỏ, còn bao nhiêu thành lớn như thành Vương Xá, Thất La Phiệt, Vesaly và nhiều thành khác với hàng ngàn đệ tử và các vị vua chúa sang trọng. Những vị ấy sẽ tổ chức lễ an táng hết sức trang trọng và đầy đủ.

Vào buổi chiều muộn ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, sau khi thuyết pháp cho chư tỳ khưu, đức Phật biết rằng giờ nhập diệt đã gần kề, ngài mới bảo Tôn giả Anonh hãy thông báo cho đức vua và các vị quan lại cùng chúng đệ tử đến rừng Sara, mang theo hoa nến để đảnh lễ lần cuối.

Khi Tôn giả Anonh thông báo về thời khắc nhập Niết bàn của đức Phật, nhà vua và dân chúng thành Kushinara hết sức đau buồn. Họ không ngớt than khóc vì ngày nhập diệt quá sớm của đấng Đại đạo sư. Từng đoàn người kéo về rừng Sara, nơi đức Phật đang ngự để đảnh lễ lần cuối cùng. Mỗi đoàn sẽ có một người đại diện, lần lượt sẽ lên gặp đức Phật lần cuối.

Souphatthapariphasok nghe tin đức Phật sẽ nhập diệt trong đêm nay. Ông chưa bao giờ nghe hay biết gì về đức Phật, và không tin lại có một người đạt Chánh đẳng Chánh giác mà không cần đến sự chỉ bảo của ai. Ông quyết phải đến gặp đức Phật để làm rõ những nghi vấn trước khi ngài nhập diệt, nếu không cả cuộc đời ông sẽ phải hối tiếc. Ông đi đến rừng Sara và chứng kiến cảnh bao ngưòi đang đứng chờ để được vào vấn an đức Phật. Ông cố len vào nhưng đã bị Tôn giả Anonh cản lại vì đã đến giờ đức Phật nhập diệt.

Mặc dù Souphatthapariphasok bị đẩy lại, nhưng ông không từ bỏ ý định và cố van xin được vào gặp đức Phật. Đức Phật hay tin Souphatthapariphasok vừa từ xa đến đây, mong được nghe ngài thuyết pháp, bởi vậy ngài bảo Tôn giả Anonh hãy cho phép Souphatthapariphasok vào. Khi được vào vấn an đức Phật, ông đảnh lễ trước đức Phật rồi hỏi như sau:
Đức Phật nhắc lại câu hỏi rồi trả lời rằng “ Mugga có 8 nhân tố, điều này không có trong pháp giáo . Bốn loại tâm siêu thế là: 1 – Phra Sotapanna (tu đà hườn quả là sa môn hạng dự lưu hay hạng sơ khởi), 2 - Phra Sakadhagamy (tư đà hàm quả là sa môn bậc nhì), 3 – Phra Anagami (a na hàm là sa môn bậc ba), 4 – Phra Arahanta (A la hán là người đã đạt được cõi niết bàn).

Souphatthapariphasok vô cùng hài lòng với câu trả lời của đức Phật. Ông đã hiểu được đạo pháp và chứng ngay sơ quả. Ông xin được thụ phong nhưng đức Phật dạy rằng Souphatthapariphasok nên học “Parivassakamma” trong bốn năm vì ông là người ngoại đạo. Souphatthapariphasok đồng ý. Sau đó, đức Phật bảo Tôn giả Anonh truyền thụ giới tỳ khưu cho Souphatthapariphasok thật nhanh rồi dẫn Souphatthapariphasok vào để đức Phật làm lễ tế độ theo phương pháp Ehi Bikkhu.

Đức phật đã chỉ dạy Kammatthana (cách thức thiền định) để tỳ khưu Souphatthapariphasok luyện tập như sau:
Kesa Loma Nakha Dhanta Taco
Taco Dhanta Nakha Loma Kesa
Kesa Loma Nakha Dhanta Taco
Mới bắt đầu thực hành, tỳ khưu Souphatthapariphasok đã đắc ngay quả A la hán.
Tỳ khưu Souphatthapariphasok là môn đệ cuối cùng của đức Phật và là vị A la hán cuối cùng của Phật giáo. Điều này cho thấy đức Phật đã hoàn thành sứ mệnh đến phút cuối cùng của cuộc đời.

Đức Phật đã dặn dò những lời cuối cùng với môn đệ rằng “Sau khi nhập Niết bàn, pháp và luật mà ta đã dạy sẽ là đạo sư của các ngươi, không bao giờ được phép dễ duôi vì Sankhara là vô thường rồi sẽ tan biến. Các ngươi nên hành đạo để giúp ích cho người khác và cho chính bản thân mình.” Sau khi nói những lời này, đức Phật nhập Niết bàn, lúc đó là canh cuối của đêm rằm tháng Sáu năm Tuất.
Điều này cho thấy đức Phật đã gánh vác trọng trách trên vai trong suốt 45 năm không hề nghỉ ngơi cho đến giờ phút cuối cùng trước khi nhập Niết bàn. Đức Phật đã để lại Giáo pháp vô cùng quý giá cho chúng sinh trên toàn thế giới để hành theo. Chúc cho tất cả các bạn đều có thể hành theo Giáo Pháp của đức Phật. Sadhu Anumodhami.

Đức Phật nhập diệt tuần tự theo từng bước. Ngài nhập Tứ thiền hữu sắc bắt đầu từ Sơ thiền, rồi đến nhị thiền, tam thiền rồi đến tứ thiền, cứ trở đi trở lại cho đến lần cuối thì Ngài nhập diệt.
Khi ấy, Tôn giả Anonh vẫn chưa đắc quả A la hán, ngài liền hỏi đức Anuroutdha rằng đức Phật đã nhập diệt chưa.
“Đức Phật sinh ra ở dưới cội cây Sara vào ngày rằm tháng Sáu. Đức Phật đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác dưới cội cây Bồ đề vào ngày rằm tháng Sáu. Và giờ đây, đức Phật nhập Niết bàn dưới cội cây Sara cũng vào ngày rằm tháng Sáu. Bởi vậy, ngày này đã trở thành ngày quan trọng nhất của đạo Phật”.

Đức Phật nhập Niết bàn khiến chúng đệ tử than khóc đau buồn. Với những đệ tử đã đắc quả A la hán, sự tiếc thương này có phần đỡ hơn. Nhưng đối với những đệ tử vẫn chưa đắc quả A la hán thì sự đau buồn này không thể nào kể xiết. Trong suốt bảy ngày sau đó, các quốc vương và hàng vạn tín đồ đến mang theo năm trăm bộ y vàng cùng rất nhiều hoa thơm để trải lên chỗ nằm của đức Phật. Đến ngày thứ tám (ngày trăng tàn), thi hài đức Phật được đưa về chùa Makoutdhaphandha để làm lễ hoả táng.
Về y phục của đức Phật, Tôn giả Anonh đã dặn đức vua dùng vải lụa tốt nhất bao quanh thánh thể đức Phật hai lớp, sau đó dùng dây tốt quấn quanh năm trăm vòng rồi đặt vào trong linh cữu bằng vàng, sau đó đưa linh cữu lên hỏa đài. Hỏa đài được làm toàn bằng gỗ đàn hương, cao 120 hắc tay. Đức vua bắt đầu làm lễ hoả táng, nhưng ngài không sao châm lửa được. Khi được hỏi, Tôn giả Anonh mới giải thích rằng Chư Thiên, Phạm Thiên bảo vệ thi hài đức Phật là để chờ vị Đại đệ tử Ma ha Ca diếp (Maha Kassapa) về. Vào ngày đó, đức Ma ha Ca diếp cùng 500 đệ tử khác của đức Phật đang trên đường đến nơi đức Phật nhập Niết bàn để tỏ lòng tôn kính, nhưng không kịp. Khi nghe tin đức Phật đã nhập diệt được bảy ngày, một số đệ tử do đích thân đức Phật thụ phong đã nằm vật trên đất khóc than vì đã mất đi vị Đại đạo sư đáng tôn kính nhất. Còn đối với các đệ tử Kinasava (đã đắc quả A la hán) cũng cảm thấy rất buồn. Trong số các đệ tử này, có một vị tên là Suphatdha, đã nói với các đệ tử khác rằng “ Tại sao chúng ta lại phải buồn khổ than khóc? Chẳng phải giờ đây chúng ta đã thoát khỏi uy quyền của đức Phật sao? Khi còn sống, Ngài lúc nào cũng giáo huấn chỉ bảo chúng ta. Giờ đây đức Phật đã nhập diệt, chúng ta có thể làm những gì chúng ta muốn mà không sợ có ai ngăn cản .”
Đức Ma ha Ca diếp đã khuyên các môn đệ khác bằng kinh Buddha Dhamma Katha để họ vợi bớt nỗi buồn và tiếp tục lên đường đến chùa Makoutdhaphandha. Khi đến nơi, đức Ma ha Ca diếp đảnh lễ trước linh cữu và đi ba vòng quanh hỏa đài rồi nói “Bạch đức Phật, đệ tử là Ma ha Ca diếp được ngài đưa vào hàng đại đệ tử cao quý về Hành Thiền Pháp. Nếu ngài chiếu cố đến lòng tôn kính nhất của đệ tử đối với ngài, xin cho hai bàn chân của ngài hãy đặt lên hai bàn tay của đệ tử đang lễ ngài đây”. Bỗng nhiên, như có phép màu, hai bàn chân của đức Phật ló ra khỏi lớp vải lụa và năm trăm vòng dây đặt trên tay đại đức Ma ha Ca diếp. Khi ấy đại đức Ma ha Ca diếp lại bạch tiếp “Kể từ ngày đệ tử theo hầu ngài trên thế gian này, chưa bao giờ không vâng lời ngài dạy bảo, nhưng đệ tử chưa có cơ hội được hầu hạ bên ngài, vậy đệ tử xin ngài từ bi tha thứ cho.” Sau khi dứt lời và đảnh lễ trước đức Phật, bỗng nhiên hai bàn chân của ngài tự động rút vào và lửa bùng cháy.
Bảy ngày sau lễ hỏa táng, các vị vua đã thu thập xá lợi của đức Phật đặt lên mình voi rồi tổ chức lễ rước xá lợi về cung. Xá lợi được đặt trên ngai Rattana được trang hoàng rất lộng lẫy. Lễ cúng xá lợi kéo dài bảy ngày.
Vậy là, ngày Atdha, ngày mùng 8 tháng 6 là ngày hỏa táng của đức Phật, ngày này cũng được coi là một trong những ngày quan trọng nhất của Phật giáo cho đến ngày nay.

Bảy ngày sau lễ hỏa táng đức Phật đã xảy ra xích mích giữa các vị vua của bảy nước láng giềng về việc phân chia xá lợi. Đó là: 1 - Vua thành Ka tỳ la vệ, 2 - Vua Asatsatrou của thành Vương Xá, 3 - Vua Lijasavy của thành Vesaly, 4 - Vua Dhila của thành Ullakappa, 5 - Vua Koliyavong của thành Ramkham, 6 - Vua Maha Brahma của thành Vettadhipaka và 7 - Vua thành Pava. Tất cả các vị vua này đều là phật tử và đều đã thọ tam quy. Sau khi đức Phật nhập cõi Niết bàn, thay vì phải tiếp tục hành theo giáo lý của ngài, họ lại trở nên tham lam ích kỷ và quyết tâm giành bằng được xá lợi của đức Phật. Bởi vậy đã bùng nổ cuộc chiến tranh xung quanh việc phân chia xá lợi. May mắn thay, vào lúc đó, một vị Bà la môn tên là Dhona đã đến tâu với bảy đức vua rằng “Muôn tâu bệ hạ, đức Phật không chỉ là bậc Đại đạo sư của chúng ta mà còn là bậc Đại đạo sư của toàn cõi thế gian này, tất cả chúng ta đều là phật tử. Chúng ta không được quên những lời giáo huấn của ngài rằng Giáo pháp phù trợ thế gian. Chúng ta nên sống và tỏ lòng tôn kính thay vì hủy hoại những Giáo pháp mà ngài để lại. Điều này có thể được chăng? Chúng ta nên cùng nhau bàn bạc thay vì chém giết lẫn nhau bởi tất cả chúng ta đều là những môn đệ của ngài.” Lời nhắc nhở của Bà la môn Dhona đã cảnh tỉnh các vị vua, họ đồng ý hòa hợp và cùng nhau phân chia xá lợi, mang phần xá lợi nhận được về vương quốc để cúng lễ cho đến ngày nay.
Cuối cùng, tôi xin gửi lại các chư vị phật tử câu chuyện về Đức Phật Tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa để quý vị có thể thực sự hiểu được bản chất cốt lõi của đạo Phật (Tôi không có ý định biên soạn cuốn sách này cho hàng học giả). Tôi cũng xin được cầu chúc tất cả những người đã thực hành theo Giáo Pháp của Đức Phật, bậc Đại Đạo Sư đã được biết đến trong suốt 2541 năm qua, luôn được an khang, thịnh vượng và sống lâu. Sadhu Anumodhami.
Sadhu Anumodhami – Cầu chúc cho tất cả mọi người được hạnh phúc
Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong
21 tháng 3 năm 1998
Địa chỉ những người hỗ trợ chính tại Mỹ
|
70 Linwood Street Malden, Massachusetts 02148 Telephone: (781) 321-3724 |
72 Linwood Street Malden, Massachusetts 02148 Telephone: (781) 397-9802 |
First Sanghayana (Monks' Meeting)
HỘI NGHỊ ĐẦU TIÊN CỦA CHƯ TĂNG
Bảy ngày sau khi đức Phật nhập cõi Niết bàn, Chư tăng nội bộ bắt đầu có dấu hiệu mâu thuẫn. Bởi vậy, Đại hoà thượng Ma ha Ca diếp đã tổ chức hội nghị mời tất cả các vị chư Tăng đến tham dự. Đây là hội nghị đầu tiên dành cho Chư Tăng. Mục đích của hội nghị này là phân loại Giáo pháp của đức Phật thành nhiều nhóm khác nhau.
Wat Lao Buddhanimit Canberra' Australia
Dated 9.12.1992
Written by Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong
PO Box 814
CAMPBELLTOWN NSW 2560
AUSTRALIA
Tel: 0419 224650
Ghi chú : Mọi chi phí tổ chức Hội nghị đều do nhà vua Asat Satrou đảm nhận. Đó là do ngài vẫn còn cảm thấy hối hận vì đã hợp tác với Devadhat âm mưu ám sát đức Phật. Ngài đã nhận ra lỗi lầm và xin được đóng góp công sức cho Phật giáo cũng như những hội nghị diễn ra sau này.

Phra Guru Sri Tad took Luongta Nam Phra Guru Chanhphy Manivong Hoà Thượng to live with since the age of ten years and then ordained as a novice. Luongta lived in cave called “Kok Mong, Phu Khao Khuay, Ban Tak Dad”up to forty-six years of age went down from the mountain to Ban Chanh Sa-ard to build a temple named “Wat Kamphy Phon Kok”, Ta Sang Bo-O, Muang Sai Phong, Vientiane , Laos .
Tôi rất hạnh phúc được gửi đến quý vị câu chuyện về cuộc đời của đức Phật.
Bất kỳ ai muốn tìm hiểu về cuộc đời của đức Phật đều có thể đọc cuốn sách này.
Tôi muốn gửi đến quý vị những lời chúc tốt đẹp nhất mà tôi đã viết trên trang Web của tôi về đạo pháp.
Trong tương lai, tôi sẽ còn viết thêm nữa về Pháp giáo của đức Phật để quý vị có thể tăng vốn hiểu biết của mình, nhờ đó có thể có thêm nhiều hạnh phúc trong cuộc sống.
Cảm ơn quý vị đã đọc cuốn sách của tôi. Xin được cầu chúc cho mọi chúng sinh trên thế gian này được hạnh phúc và hãy luôn tự bảo trọng.
Tôi xin phép cung thỉnh những lời truyền dạy Của Đức Phật xin mang lại Ai có lòng kính quý Tôn kính bước theo Tam bảo. Con đường nhân gian phiền não khổ đau Như Đức Phật Năm trăm kiếp Thương chúng sinh lặn lội Tìm đường cứu chúng sinh Đến kiếp thứ mười, Sau khi ngài thành Phật rồi là Thầy của Năm cõi thế giới. Tôn kính thưa Bẩm dạ, và làm theo lời truyền dạy của ngài, Như:
Nàng Khô Tamĩ, Khi nàng kết hôn rồi được một người con trai, Nàng thương con, còn hơn thương thân mình, không may đứa con trai mến yêu của nàng đã Chết, Để lại đau xót cho nàng. Nàng nghĩ được ở trần gian này, có ai làm cho con của nàng sống trở lại được, Chi có Đức Phật, có thể cứu sống con nàng được. Đó là niềm tin của nàng. vậy nàng mang đứa con trai, đến tận nơi cung điện nơi Đức Phật, rồi nàng mang đứa con đạt xuống rồi, nàng tôn thưa, Đức Phật, Xin Ngài cho mạng sống đứa con của nàng được sống lại, nhưng Đức Phật ngài nói không được, đó là sự thiên nhiên, nhưng nàng không tin, nàng cố xin cho bằng được, Đức Phật mới truyền lời cho nàng, nếu như vậy thì làm theo lời. Phu nhân hãy đi trong xóm làng, vào từng nhà một rồi hỏi xin lấy một hạt nhân của trái na, mang về làm thuốc, cho con trai phu nhân uống, sẽ sống lại, nhưng có một đều nên nhớ, trước khi lấy hạt nhân phải hỏi chủ nhà, trong gia đình từ trước kia cho đến ngày hôm nay có ai Chết không? Nếu có thì không lấy, Có nhà nói Mẹ Chết, có nhà nói con Chết, có nhà nói chồng Chết, không có một nhà nào, không có người Chết, Trong thời gian Ba tháng đi tìm xin hạt nhân, trở về tay không, trước khi ra về nàng đã rõ con đường TỬ Sinh, Người sinh ra ai cũng Chết.
Không phải có một mình con mình chết. Khi trở về nàng mang con của nàng đi đốt rồi đến tôn thưa Đức Phật, Con đã rõ rồi, không có một khả năng nào chống đối lại thiên nhiên được, vì luân hồi tử sinh, Rồi Đức Phật ngài ban lộc cho, và nàng hai mắt đã thấy rõ, trong cõi Toa Bà. Đầy phiền não, Vậy tôi xin Cung thỉnh Đức Phật xin ngài ban lộc tốt phước lành Cho muôn loài có được một cuộc sống thanh bình yên vui.
Nammô Bổn Sư Thích Ca Mâuni Phật.
Xuân Phy viết ngày 21 tháng 3 Năm 2010, ÚC
NHÂN GIAN ÂU SẦU SINH TỬNhân gian...Số phận Con đường Phiền não mang theo, vấn vương âu sầu Sầu đời số phận sinh ra Một đời sinh rồi sống được là bao...? ANI Chẳng - không Vĩnh theo đường ANẮTTA - không lời vĩnh viễn đổi thay Ngày nay sáng tối, theo vần Vần theo trái đất địa cầu, Xoay quanh Hơi thở nối tiếp, thở vào Thở ra không có...Mạng đời tiêu tan Sáng nay, vui sướng reo hò Chiều về hết thở, hỏi đời còn không..? Đấy vậy ANI-Chẳng, Anắt-Ta Không gì vĩnh viễn, Một lời hỏi Ai..? Hỏi trời, hỏi đất không than Như vậy thái Tử tìm đường, mới hay Hay sinh, già-tử khổ đau Thấy rồi, ngồi than, vấn sầu, tử sinh Tịnh tâm, nghĩ lại đường trần Anh chàng đến Báo, vợ ngài đã sinh Thái Tử than lời La Hủn Sợi dây thắt cổ sinh rồi đời tôi... Lời này Đức Phật dạy khuyên Để cho biết rõ Con đường chúng sinh Thương Con như dây thắt cổ Thương vợ, như dây thắt bó hai tay Thương của như thừng trói chân “ TẲN HẢ HẠC LỤC MƯỞN XƯỢC PHỤC KHO ” - Thương con “TẲN HẢ HẠC MIA MƯỞN XƯỢC,MẶT MƯ” - Thương vợ “TẲN HẢ HẠC VẮT THŨ MƯỞN XƯỢC MẶT TỈN” - Thương tài sản SINH RA, ĐAU KHỔ, MANG CÙNG CHẾT ĐI GIỐNG NHAU! Xuân Phy viết Ngày 12 Tháng 3 Năm 2010 ÚC |
CÕI TOA BÀToa bà phiền não tử sinh Không gì vĩnh viễn, theo đường thiên nhiên Sinh ra già tử luôn hồi Sinh rồi thay đổi, muôn loài giống nhau Loài cây, loài vật, loài người Sinh rồi phải chịu khổ đau. Thêm già Mang theo số phận, chung cùng Có sinh có tử, không hề một ai ... Ngàn lời mộng Ứơc cầu Xin Thêm ngày, thêm tháng, cho đời sống DAI Có ai sống được như mong Phải già phải chết con đường mang theo Ra đi để lại không gì ...! Chỉ còn đạo đức, mang cùng. Tiễn đưa Đưa theo chín suối, thiên đàng Đeo vàng, đeo nhẫn, kim cương, chưa vừa Xin thêm muốn nữa, chưa đầy Khi đầy. Hết thở, không hơi nằm dài Đời là như vậy chúng sinh Toa bà. Phiền não. Xoay vòng khổ đau Có đâu vĩnh viễn, như nàng Khô tami, xin Phật, xin trời cho con Chết rồi sống lại, như lòng [CẦU XIN] Xuân Phy viết ngày 21 tháng 3, năm 2010, ÚC Lời thơ này. Thầy xin Biếu Phật tử, xin đừng lo già Cứ vậy theo đường thiên tạo mà đi, hạnh phúc xuân nhiều |
A PLAN FOR LIVING
Buddhism is a plan for living in such a way as to derive highest benefit from life.
It is a religion of wisdom where knowledge and intelligence predominate.
The Buddha did not preach to win converts but to enlighten listeners.
“O Bikkhu, If others also know the value of giving as much as I know, no one will eat anything without giving at least a morsel to others. They will never be miserably. If there is anyone to receive it, they will give part of the last portion of their meal they were eating ”
That is the value of giving kindness to the life. “Sookkhang Sook Patiphoon Sati”
ปาริสุทธิทานังเม น้อมจิต ขอมอบแด่ท่านอันเป็นของขวัญ และเชิญท่านอนุโมทนาด้วย
ปาริสุทธิธัง น้อมจิต ขอนมัสการแด่พระศาสดาจารย์เจ้า พระองค์เป็นพระบรมครูจอมแห่งเทพทั้งห้าภพนั้น คือ พรหมโลก, เทวาโลก, นาคาโลก, มนุษยโลก และ ยมโลก , โลกทั้ง 5 พร้อมไปด้วยเทพเทพาทุกๆเหล่า และ เจ้าแม่ธรณี, ภุมมาเจ้าที่ ในสถานที่ข้าพเจ้าได้อยู่อาศัย ให้ความเมตตา เกื้อกูล ปกปักรักษา ให้ข้าพเจ้าได้รับความร่มเย็นเป็นสุขนั้น
ข้าพเจ้าขอน้อมจิต อาราธนา เชิญท่านเจ้ากูทั้งหลายโปรดเมตตา ในกุศลผลบุญ ที่ข้าพเจ้ามี ความยินดีในการสร้างหนังสืออันเป็นพุทธประวัติ แห่งคำสั่งสอนขององค์พระสัมมาสัมพุทธเจ้า เพื่อน้อมมอบแด่ท่าน ผู้ที่มีความยินดีในหลักพระธรรมของพระตถาคตโคดมเจ้า อันเป็นธรรมทาน ไม่ได้ขาย
ขอน้อมจิตถวายแด่พระตถาคตเจ้า ขอพระองค์จงเกษมสุขสำราญทุกทิพาราตรีนั้นเทอญ สาธุ
ขอผลทานนี้จงเกิดมีขึ้นแก่ข้าพเจ้า และท่านทั้งหลาย ผู้ที่มีศรัทธาขอร่วมบุญ ด้วยเจตนาอันบริสุทธิ์ พร้อมด้วยครอบครัวคุณโยมเอกชัย ศรีบัณฑิต ได้สร้างมาแล้วด้วย กาย วาจา ใจ และ สติปัญญา ได้เขียนอักขระ พยัญชนะธรรมตัวหนึ่ง ถวายเป็นธรรมทานอันเป็นกุศล
ดั่งนั้นในผลทานนี้ ขอจงสำเร็จไปด้วยปาริสุทธิทานังเม นั้นเทอญ
สาธุ อนุโมทามิ สาธุ สาธุ
Respect the Lord Buddha
This book entitled the History of Siddhartha Gotama Buddha has been made as a gift to whom would like to follow the Lord Buddha teaching and it is not for sale.